Góc khuất của… nghề?

Ngẫm về chuyên ngành của mình, GS – TS. Hoàng Xuân Sính bộc bạch: Tưởng chỉ có văn, chứ toán cũng thế. Có nhiều hành trình để tới đáp số. Nhưng nếu hành trình đó không đúng đáp án mà đáp số vẫn đúng thì học sinh cũng sẽ “chết”…

Trong những năm đầu thập niên 60 thế kỷ trước, Trường đại học Sư phạm Hà Nội đóng tại Cầu Giấy, lớp học đơn sơ là những ngôi nhà tranh vách đất. Giảng dạy tại Hà Nội ít lâu, khi đế quốc Mỹ chính thức tiến hành chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, từ tháng 2/1965, lớp học của cô Sính cũng phải sơ tán ra huyện Ứng Hòa – Hà Tây, nơi có dòng sông Đáy uốn khúc quanh co.

Cuộc chiến tranh bằng không quân phá hoại miền Bắc ngày càng mở rộng, nên lớp học thường xuyên phải di chuyển địa điểm, khi ở đồng bằng, lúc lại lên trung du. Ở nơi học mới, tối cô và trò phải mất 3 ngày để dựng lên một lớp học với sức chứa 50 học sinh. Lớp học là ngôi nhà được lợp bằng lá cọ, đóng cọc bằng tre vào nền đất.

Đến giờ cô vẫn băn khoăn mãi: Ngày đó, khổ là vậy, cả thầy lẫn trò đói quanh năm, chẳng có ăn sáng, bữa trưa quen thuộc cơm độn khoai hay sắn, thức ăn chỉ có canh rau muống luộc hoặc canh su hào cho tí mỳ chính. Nhưng với cô, sinh viên thật tuyệt vời, ai học cũng giỏi, lớp học im phăng phắc, chăm chú nghe cô giảng bài. Cô Sính canh cánh nỗi lòng, sau này mỗi lần họp lớp cô hỏi các sinh viên của mình thời đi sơ tán: “Đói khổ như vậy, sao các em học giỏi thế, thông minh thế?!”. Trò lại lễ phép thưa: “Hồi đó ở trong làng sống nhờ nhà dân, ngoài lên lớp ra là về nhà học bài, chứ tuyệt nhiên không có gì khác…”.

Cũng trong quãng thời gian đi sơ tán, cô Sính đã làm một việc khiến các nhà nghiên cứu khoa học nước ngoài kính nể và nhiều người cảm phục. Đó là cô đã hoàn thành bản luận văn để sau này lấy bằng “Tiến sĩ quốc gia” ở Đại học Paris 7, để trở thành nữ GS-TS toán học đầu tiên của Việt Nam.

Chẳng rõ có phải GS – TS, Nhà giáo Nhân dân Hoàng Xuân Sính là người phụ nữ nước ngoài đầu tiên đặt chân đến Paris để lấy tấm bằng “Tiến sĩ quốc gia” về chuyên ngành toán học hay không?! Nhưng trong suốt quá trình đến Paris để chuẩn bị bảo vệ bắt đầu từ tháng 8/1974 và kết thúc vào tháng 5/1975, cô Sính là người phụ nữ duy nhất đã chọn chuyên ngành hóc búa – toán học để làm luận án, và cô đến từ một đất nước đang có chiến tranh ác liệt.

Tháng 8/1974, cô giảng viên Trường đại học Sư phạm Hà Nội sang Paris ôm theo bản luận án đã làm trong những tháng ngày sơ tán để lấy bằng “Tiến sĩ quốc gia”. Hội đồng chấm luận án là những giáo sư ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt Nam chống Mỹ. Thời đó, ở Pháp có quy định ngoài bản luận án đã làm, thí sinh còn phải làm bản luận án thứ hai. Và luận án thứ hai phải nằm ở một lĩnh vực khác hoàn toàn với bản luận án thứ nhất, mục đích để đánh giá trong một năm thí sinh có khả năng nhanh chóng thâm nhập vào một lĩnh vực khác hay không?! Có như vậy, hội đồng chấm luận án mới ghi vào bảng đánh giá mấy chữ: Có khả năng giảng dạy đại học.

Khỏi phải nói đã thấy sự thua thiệt của cô Sính đến thế nào. Vì ở các nước, người làm công tác khoa học chỉ việc chuyên tâm vào việc nghiên cứu, không phải phân tâm và mất thời gian để làm bất kỳ việc gì khác. Nhưng với cô Sính, trong điều kiện đất nước đang chiến tranh, sống những ngày sơ tán, không có thư viện, không có thầy, thậm chí hạn chế bạn để trao đổi, tách biệt hoàn toàn với thế giới khoa học. Lại nữa, cuộc sống thiếu thốn gian khổ trăm bề. Công việc choán từ sáng sớm cho đến nửa khuya, bởi vì cô còn phải làm đầy đủ chức phận của một người dạy học. Khi ánh chiều trong ngày tắt là lúc cô ngồi vào bàn giở giáo án, chuẩn bị bài giảng cho hôm sau và chấm bài cho sinh viên.

Thật cũng kỳ lạ, trong thời gian làm luận án, cô không nghỉ dù chỉ một ngày. Ngày nào cũng vậy, đợi đến khi xong công việc của một nhà giáo thì kim đồng hồ cũng vừa vặn chỉ 9 giờ tối. Cô Sính lặng lẽ chui vào màn để tránh muỗi, miệt mài làm luận án bên ngọn đèn dầu leo lét sáng. Lúc đó, cô thầm ao ước có được một cây đèn nhỏ chạy bằng pin để thay cái ánh sáng tù mù của ngọn đèn dầu. Vậy mà, điều mong muốn giản dị ấy cũng không thể thực hiện được.

Với sự nỗ lực khôn cùng cô đã thành công. Năm 1975, với tấm bằng GS-TS Toán học bảo vệ tại Paris, cô đã quay trở về nước, về với mái trường xưa, Đại học Sư phạm Hà Nội, tiếp tục cuộc hành trình, đứng trên bục giảng.

Người ta thường hình dung về nữ khoa học trong ngành toán là người khô khan, cứng nhắc. Nhưng với ai đã từng một lần tiếp xúc với cô Sính thì thấy rõ, nhận thức đấy đã hoàn toàn sai lệch. Cô là người tinh tế, giản dị…

Suốt cả thời con gái cho đến tận giờ, cô Sính vẫn không nguôi nỗi nhớ thương bà nội. Năm cô lên 8 mẹ đẻ mất, chỉ hai tháng sau bà nội ốm rồi qua đời. Một năm phải chịu hai cái tang của những người ruột thịt, thân yêu nhất, bé Sính hẫng hụt và thấy trống vắng vô cùng… Trong tâm hồn non nớt ngây thơ, hình ảnh của người bà hiện lên thật dịu dàng. Bà nội cô sinh ra từ một gia đình làm nông tại Từ Liêm – Hà Nội. Năm bà vừa bước sang tuổi 13 là lúc nhà trai đến đón về làm dâu. Xã hội phong kiến đã đày đọa tấm thân mảnh dẻ chưa kịp đến tuổi lớn đã phải sống cuộc sống của người trưởng thành nuôi gia đình.

Ngày ngày, bà nội gánh rau đi bán từ ngôi làng này sang ngôi làng khác, dáng người gầy guộc in bóng xuống con đường đất dài hun hút gió. Mùa nào thức nấy, những bó rau xanh trong rổ kẽo kẹt trên tấm lưng mảnh dẻ của bà, oằn xuống…

Sau ngày cô về nước, năm nào cũng vậy, cứ mỗi độ tết đến xuân về, khi các gia đình tụ họp quây quần bên nhau, là lúc cô Sính lại nhớ da diết về người bà đã mất của mình. Một mình, cô lững thững đi bộ ra chợ tết, khắc khoải tìm về hình ảnh của người bà khi xưa, ngồi thu mình bé nhỏ bên mẹt rau xanh dưới giá lạnh của ngày đông giáp tết. Nhiều lần, cô Sính đã vét sạch những đồng xu cuối cùng để mua cả mẹt rau, chỉ vì khi nhìn những bà cụ già bên gánh rau xanh cô lại tìm thấy hình ảnh của nội. Có lúc cô cứ nghĩ đấy chính là bà của mình. Cô thương nội lắm.

Trong con người cô Sính đan xen một góc khuất của những bồng bềnh, lãng mạn và một góc sáng, dữ dội dành chỗ cho tư duy khoa học, logic. Từ lúc tôi gặp cô, chuyện mà cô muốn đề cập nhất chính là những bức bách về vấn đề giáo dục mà ngày đêm cô trăn trở. Nói về giáo dục, cô trở nên sôi nổi hẳn. Cô bảo: “Chả hiểu sao có mỗi chuyện có nên đưa ngoại ngữ vào bậc tiểu học hay không mà cứ thảo luận đi, thảo luận  mãi đến giờ vẫn chưa tìm ra câu trả lời?”.