Bảo Hộ Nhãn Hiệu Hàng Hóa
Tháng 10 9th, 2009 by admin
Tầm quan trọng của bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trong nền kinh tế thị trường và trong kỷ nguyên hội nhập Quốc Tế
I. Nhãn hiệu hàng hoá và bảo hộ Nhãn hiệu hàng hoá
Trong các đối tượng sở hữu công nhiệp, nhãn hiệu hàng hoá là một trong các đối tượng sở hữu công nghiệp hiện nay được đăng ký bảo hộ nhiều nhất ở các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển. Nhiều triệu nhãn hiệu hàng hoá đã được đăng ký và đang được bảo hộ hiện nay trên toàn thế giới. Các nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ cho tất cả các sản phẩm hàng hoá được sản xuất trên toàn thế giới (Bao gồm 34 nhóm hàng hoá khác nhau) và toàn bộ các loại dịch vụ hiện có (gồm 11 nhóm dịch vụ khác nhau, theo bảng phân loại quốc tế Nice lần ![]()
Trong các đối tượng sở hữu công nghiệp thì nhãn hiệu hàng hoá là đối tượng gắn chặt nhất với quá trình lưu thông hàng hoá. Bằng nhãn hiệu hàng hoá, nhà sản xuất có thể đánh dấu hàng hoá của mình sản xuất khi đưa ra thị trường, có thể quảng cáo nhãn hiệu của mình thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài, truyền hình hoặc trên biển quảng cáo hoặc dùng trong giấy tờ giao dịch… nhằm đẩy mạnh lưu thông, tăng doanh số hàng hoá của mình. Mặt khác, thông qua nhãn hiệu hàng hoá ngưòi tiêu dùng có thể dễ dàng lựa chọn hàng hoá theo nhãn hiệu phù hợp với nhu cầu, sở thích, mức chất lượng mà mình mong muốn.
Như vậy việc sử dụng đúng đắn chức năng của nhãn hiệu hàng hoá theo đúng pháp luật sẽ tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Tuy vậy, trong thực tế của cuộc sống mọi việc không hoàn toàn diễn ra một cách lành mạnh như vậy. Do ham lợi, muốn đạt lợi nhuận một cách nhanh chóng và bằng cách rẻ nhất, người ta đã làm giả, bắt chước hoặc nhái theo các nhãn hiệu được công chúng ưa chuộng, mặc dù các loại hàng này thường là có chất lượng thấp hơn hàng thật, thậm chí hoàn toàn không có chức năng sử dụng. Điều này đã xảy ra từ đời xa xưa, khi bắt đầu việc trao đổi hàng hoá trên trái đất, và cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tệ nạn đó ngày càng phát triển về quy mô và độ tinh vi, nhất là trong thời đại bùng nổ nền kinh tế hàng hoá như ngày nay. Rõ ràng, việc làm giả và bắt chước nhãn hiệu như trên sẽ triệt tiêu sức sản xuất trong xã hội, làm người sản xuất không muốn đầu tư để phát triển hàng hoá mang nhãn hiệu của mình, còn người tiêu dùng thì từ chối mua hàng hoá vì mất niềm tin.
Các bộ luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá đã ra đời tại các nước phát triển từ hơn 150 năm về trước là nhằm bảo hộ các nhãn hiệu khi lưu thông trên thị trường và ngăn chặn nguy cơ nói trên. Sự hợp tác mang tính quốc tế trong lĩnh vực này cũng được bắt đầu từ cuối thế kỷ 19, bằng việc ký Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp (1883) và Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu (1891). Ngay từ khi mới ra đời những nguyên tắc chủ yếu về bảo hộ nhãn hiệu đã được hình thành một cách đúng đắn do đó chúng vẫn tồn tại đến ngày nay, bên cạnh đó những nguyên tắc mới cũng được bổ sung cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển.
Những nguyên tắc chính trong luật pháp về bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá trên thế giới:
+ Nhãn hiệu hàng hoá là những dấu hiệu bằng hình, bằng chữ hoặc hình chữ kết hợp dùng để phân biệt hàng hoá cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau
Các nhãn hiệu hàng hoá chỉ được chấp nhận bảo hộ nếu đáp ứng một loạt tiêu chuẩn quy định, trong đó việc nhãn hiệu đó không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với một số nhãn hiệu khác được đăng ký trước đó cho cùng loại sản phẩm là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất
+ Muốn xác lập quyền đối với nhãn hiệu, chủ nhãn hiệu phải nộp đơn xin đăng ký với cơ quan sở hữu công nghiệp quốc gia. Khi được chấp nhận bảo hộ, chủ nhãn hiệu được cấp một Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu. Văn bằng này xác nhận quyền sở hữu của chủ nhãn hiệu đối với nhãn hiệu hàng hoá. Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá thường có hiệu lực trong một thời hạn cụ thể (thường là 7 hoặc trên dưới 10 năm, ở Việt Nam là 10 năm) kể từ ngày đăng ký và có thể gia hạn liên tục khi kết thúc thời hạn hiệu lực cũ.
+ Trong thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, chủ Giấy chứng nhận độc quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá để đánh dấu hàng hoá của mình và sử dụng nhãn hiệu hàng hoá nhằm các mục đích kinh doanh khác; hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu cho người khác; hoặc cho phép người khác cùng sử dụng nhãn hiệu thông qua các hợp đồng lixăng.
+ Mọi hành vi xâm phạm quyền nhãn hiệu của người khác đã được bảo hộ bao gồm việc sử dụng trái phép một nhãn hiệu trùng hoặc một nhãn hiệu chỉ tương tự nhưng có khả năng gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được bảo hộ cho cùng loại sản phẩm thì sẽ bị pháp luật xử lý.
+ Hiệu lực bảo hộ một nhãn hiệu không phải là ở khắp mọi nơi mà nó bị giới hạn về không gian, nghĩa là nhãn hiệu chỉ có hiệu lực bảo hộ ở những quốc gia mà nhãn hiệu đã được chấp nhận đăng ký. Do đó, để nhãn hiệu được bảo hộ ở những quốc gia mình quan tâm, chủ nhãn hiệu phải nộp đơn xin đăng ký ở nước hoặc vùng lãnh thổ đó.
II. Tầm quan trọng của bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới
Đặc điểm của nền kinh tế hiện nay quá trình hội nhập của các nền kinh tế trên toàn thế giới thành một thể thông nhất. Tổ chức thương mại thế giới (WTO) hiện nay bao gồm phần lớn các nước trên thế giới, bên cạnh đó có một loạt nước thuộc các nền kinh tế đang chuyển đổi hoặc kém phát triển cũng đang ráo riết đàm phán để gia nhập. Tổ chức này. Nề kinh tế toàn cầu đang tiến đến một sân chơi kinh tế thống nhất với luật lệ hài hoà và thống nhất. Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong hoạt xuất nhập khẩu đang dần bị bãi bỏ, hoạt động thương mại quốc tế đang ngày càng thông thoáng.
Trong bối cảnh đó, ngược với giảm thiểu các hàng rào mậu dịch quốc tế, việc bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp lại ngày càng được tăng cường cả về mặt pháp lý lẫn thực thi quyền. Tầm quan trọng của bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá càng được đề cao nhằm bảo đảm và tăng cường tính cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ.
Trong việc kinh doanh hiệu quả tại thị trường trong nước hàng hoá nội địa cũng phải cạnh tranh với vô vàn hàng hoá cùng loại do người trong nước sản xuất cũng như được nhập khẩu dễ dàng từ nhiều nước khác nhau. Người chủ nhãn hiệu cũng phải nhận rõ một điều, đó là để tăng cường tính cạnh tranh của một sản phẩm, thường họ phải:
- Cải tiến kỹ thuật, sáng tạo hoặc áp dụng công nghệ mới để nâng cao chất lượng hoặc giảm giá thành của sản phẩm.
- Tạo các kiểu dáng mới của hàng hoá để hấp dẫn, thu hút người tiêu dùng…
Tuy nhiên, tất cả các thành tựu trên chứa trong một sản phẩm khi giới thiệu với công chúng thì luôn luôn được thực hiện dưới một nhãn hiệu cụ thể của nhà sản xuất. Đây là dấu hiệu đầu tiên và dễ dàng nhất để họ có thể phân biệt được sản phẩm của nhà sản xuất này với các nhà sản xuất khác để dễ dàng chọn lựa. Do đó, bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá luôn là một việc hết sức quan trọng và cấp thiết đối với nhà sản xuất nhằm tạo lập và tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng hoá.
Như trên đã nói, việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá mang tính lãnh thổ, thường giới hạn trong một quốc gia, một nhóm nước hoặc một khu vực chấp nhận sự bảo hộ đó. Sự bảo hộ trong những không gian cụ thể như vậy trong thực tế đã là rất hữu hiệu và đã mang lại những lợi ích cho chủ nhãn hiệu và công chúng trong nhiều năm tồn tại của hệ thống bảo hộ nhãn hiệu. Tuy nhiên, do sư hoà nhập của nền kinh tế, hàng hoá dễ lưu thông từ quốc gia này sang quốc gia khác, thậm chí đến cả những quốc gia khá xa xôi về địa lý đối với nước xuất xứ, việc bảo đảm được khả năng cạnh tranh của hàng hoá tại mọi thị trường ngoài nước để chống lại việc làm hàng giả hoặc cạnh tranh bất chính là điều vô cùng quan trọng. Việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá không chỉ thực hiện tại nước xuất xứ nữa, mà chủ nhãn hiệu hàng hoá cần thiết phải mở rộng sự bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá đến những vùng lãnh thổ mà mình sẽ xuất khẩu hàng hoá tới bằng các thủ tục xác lập quyền của mình kịp thời tại các vùng lãnh thổ đó.
Thực tiễn của việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá Việt Nam trong những năm gần đây càng cho thấy tầm quan trọng của việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá nhất là trong xu thế hiện nay. Một số dẫn chứng cụ thể:
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã tạo ra và phát triển được những nhãn hiệu được thừa nhận rộng rãi trong nước và thậm chí ở nhiều thị trường nước ngoài như “SAGIANG” cho bánh phồng tôm, “BITI’S” cho giày dép và đồ đi chân, “bến tre” cho kẹo dừa, “VINATABA” cho thuốc lá… Các nhãn hiệu này đã được bảo hộ rất hiệu quả ở Việt Nam nhưng chủ nhân của các hãng này lại không kịp thời bảo hộ các nhãn hiệu đó ở nước ngoài, nhất là các nước quanh Việt Nam, mặc dù họ biết hàng hoá của mình đã được xuất khẩu và được ưu chuộng ở các nước đó. Hậu quả là các nhãn hiệu đó bị chính những đối thủ cạnh tranh hoặc chính những người bản xứ, trước kia là nhà phân phối các sản phẩm đó đứng ra đăng ký chiếm đoạt quyền đối với nhãn hiệu đó tại nước ngoài. Hậu quả là việc xuất khẩu hàng mang các nhãn hiệu trên bị đình trệ, thị phần bị mất thậm chí hàng thật xuất khẩu sang các thị trường trên lại bị tạm giữ hoặc tịch thu. Tất nhiên, một số chủ nhân của các nhãn hiệu trên đã tiến hành kiện tụng và sau một quá trình pháp lý đã đòi lại được nhãn hiệu của mình, nhưng một số cũng đang rơi vào tình trạng kiện cáo khá phức tạp và tốn kém.
Ngược lại, một số sản phẩm của các hãng uy tín ở nước ngoài, sau một thời gian lưu thông đã chiếm được uy tín trên thị trường Việt Nam, nhưng một điều trớ trêu là các chủ của các sản phẩm đó không thực hiện kịp thời sự bảo hộ các nhãn hiệu hàng hoá tại Việt Nam. Mặc dù, đây là những hãng lớn hoặc những hãng sản xuất ở các quốc gia láng giềng với Việt Nam. Sự chậm trễ đó làm nảy sinh các hiện tượng tiêu cực, đó là việc các hãng khác (của Việt Nam hoặc của nước ngoài) tranh thủ chiếm đoạt để đăng ký các nhãn hiệu đó làm của mình, những kẻ trục lợi thì tranh thủ làm giả hoặc nhái các nhãn hiệu đó để lừa dối người tiêu dùng nhằm thu lợi bất chính mà cơ quan pháp luật lại không có cơ sở để xử lý. Tất nhiên luật pháp Việt Nam cũng có các điều khoản để giúp người chủ đích thực của các nhãn hiệu nổi tiếng
hoặc nhãn hiệu được sử dụng rộng rãi đòi lại nhãn hiệu của mình, nhưng những quá trình pháp lý như vậy thường lâu dài và không khỏi mang lại những thiệt hại nhất định cho họ về lợi nhuận cũng như uy tín của nhãn hiệu.
Tất cả những thực tiễn trên càng khẳng định tầm quan trọng của bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá trong phạm vi một quốc gia và trên bình diện quốc tế trong thời đại kinh tế “thông thoáng” hiện nay.
Tuy nhiên, cần phải thấy rằng việc chậm trễ hoặc không thưc hiện việc bảo hộ một cách đầy đủ các nhãn hiệu của các nhà sản xuất tại thị trường nước ngoài không chỉ là lỗi chủ quan của họ. Thực tiễn cho thấy một nguyên nhân khách quan khá quan trọng ảnh hưởng đến quá trình xác lập quyền nhãn hiệu ở nước ngoài là thủ tục đăng ký nhãn hiệu ra nước ngoài thường phức tạp và tốn kém, nhất là khi thủ tục ấy phải tiến hành từng nước một. Việc giảm sự phức tạp và chi phí cho quá trình này chỉ có thể khi nước xuất xứ phải là thành viên của một Điều ước quốc tế và đăng ký quốc tế nhãn hiệu và các nước muốn được đăng ký đến phải là thành viên của Điều ước đó. Tuy vậy, cũng có rất nhiều nước là thị trường mà chủ nhãn hiệu hàng hoá muốn bảo hộ lại không là thành viên của Điều ước nói trên.
Do việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay ngày càng quan trọng và ngày càng mang tính quốc tế nên việc tạo ra sự thông thoáng, hiệu quả và ít tốn kém trong việc xác lập quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá trong nước và tại nước ngoài là một xu thế tất yếu của các nước trên thế giới. Xu thế đó được thể hiện ở các nội dung sau:
Tăng cường việc đơn giản hoá các thủ tục đăng ký nhãn hiệu nhằm hài hoà hoá các quy định về thủ tục và tạo thuận lợi tối đa cho người đăng ký;
Tăng cường khả năng đăng ký bảo hộ nhãn hiệu theo khu vực hoặc một nhóm nước (như nhãn hiệu châu Âu qua cơ quan OHIM, nhãn hiệu Benelux gồm Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, thoả thuận đăng ký nhãn hiệu tại các nước ASEAN bằng một đơn chung duy nhất đang được soạn thảo…) hoặc quốc tế hoá việc đăng ký nhãn hiệu bằng việc gia nhập các hiệp ước về đăng ký quốc tế nhãn hiệu (như Thoả ước Madrid hoặc Nghị định thư Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu) nhằm chỉ bằng một đơn đăng ký duy nhất nộp cho một cơ quan duy nhất có thể bảo hộ nhãn hiệu ở một loạt nước mà mình yêu cầu, nhờ đó giảm thiểu thời gian, sự phức tạp và chi phí đăng ký.
III.Thực trạng việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá hiện nay ở Việt Nam
Luật pháp Việt Nam chính thức bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá từ năm 1982, hiện nay việc bảo hộ nhãn hiệu được thực hiện theo bộ luật dân sự năm 1995 (chương II phần thứ sáu “Bảo hộ sở hữu công nghiệp”
Cho đến thời điểm hiện nay có hơn 100.000 nhãn hiệu hàng hoá đã được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam, trong đó có hơn 20.000 nhãn hiệu của cá nhân, pháp nhân trong nước và số còn lại là của các cá nhân, pháp nhân nước ngoài từ hơn 100 nước và vùng lãnh thổ khác nhau. Có thể chia bức tranh của công tác đăng ký nhãn hiệu hàng hoá tại Việt Nam thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn trước đổi mới (từ 1982-1989)
Đây là giai đoạn của quản lý kinh tế quan liêu bao cấp, hàng hoá sản xuất theo kế hoạch, dịch vụ không phát triển vì vậy ý thức, nhu cầu của các doanh nghiệp về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá rất thấp. Tổng số giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá được cấp trong giai đoạn này là 1.550, như vậy trung bình mỗi năm chỉ gần 200 Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá cấp ra nhưng chủ yếu là của người nước ngoài.
Giai đoạn 10 năm đầu đổi mới (1990-1999)
Trong giai đoạn này, do chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước đã làm cho nền kinh tế bao cấp chuyển dần sang kinh tế thị trường có điều tiết. Ý thức của các doanh nghiệp, nhà sản xuất đối với nhãn hiệu hàng hoá đã tăng lên một bước. Trong toàn bộ thời gian này Cục Sở hữu công nghiệp đã cấp ra hơn 31.000 Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, bình quân hơn 3.100 Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá mỗi năm, gấp 15 lần bình quân của giai đoạn trước đó. Một điều đáng mừng là từ chỗ tỷ lệ người Việt Nam đăng ký nhãn hiệu rất thấp thì nay tỷ lệ người Việt Nam đăng ký nhãn hiệu hàng hoá đã vươn lên gần bằng người nước ngoài (chiếm khoảng 45% số lượng đăng ký được cấp ra).
Giai đoạn tăng tốc và hội nhập (2000 đến nay)
Có thể nói đây là giai đoạn có những đột biến về số lượng đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hoá. Sự phát triển của nền kinh tế sau hơn 10 năm đổi mới và các đòi hỏi của hội nhập kinh tế quốc tế cùng với việc một số nhãn hiệu Việt Nam bị chiếm đoạt ở nước ngoài đã là những điều kiện và tác động để các doanh nghiệp và các cơ quan quản lý Việt Nam nhìn nhận đầy đủ hơn vai trò của nhãn hiệu hàng hoá trong kinh doanh và nền kinh tế đang hội nhập sâu vào kinh tế thế giới. Năm 2000 có 5.582 đơn đăng ký nhãn hiệu nộp trực tiếp tại Cục Sở hữu công nghiệp thì trong đó đã có gần 60% là của người Việt Nam. Năm 2002 tổng số đơn đăng ký nhãn hiệu nộp trực tiếp tại Cục Sở hữu công nghiệp tăng lên 8.818 đơn, tăng 39% So với năm 2001, trong đó số đơn của các doanh nghiệp Việt Nam là 6.564 tăng 112% (gấp hơn 2 lần) so với số đơn của doanh nghiệp Việt Nam nộp trong năm 2001 (3.095 đơn).
Một số nhận định chung
Như đã phân tích ở trên, ý thức đăng ký nhãn hiệu hàng hoá của các doanh nghiệp Việt Nam đang ngày càng cải thiện và đã dẫn đến kết quả đột biến trong những năm đầu thế kỷ 21. Nhìn chung các nhãn hiệu đã được các chủ thể Việt Nam đăng ký, sử dụng cho tất cả 34 nhóm sản phẩm và 11 nhóm dịch vụ được liệt kê theo Bảng phân loại quốc tế các sản phẩm và dịch vụ. Tuy nhiên, có thể thấy rằng lượng nhãn hiệu hàng hoá xin đăng ký nhiều nhất là cho các sản phẩm dược phẩm, thứ hai là thực phẩm và đồ uống, thứ ba là mỹ phẩm và đồ điện- điện tử, quần áo giày dép, thứ tư là phương tiện giao thông vận tải và văn phong phẩm… số lượng nhãn hiệu dịch vụ được đăng ký nhiều nhất cho các dịch vụ buôn bán hàng hoá và dịch vụ khách sạn, thứ hai là dịch vụ xây dựng và sửa chữa nhà cửa, công trình giao thông vận tải, thứ ba là dịch vụ vân tải hàng hoá và hành khách, thứ tư là dịch vụ tài chính.
Con số thống kê cũng cho thấy việc đăng ký nhãn hiệu cũng thay đổi theo vùng, miền tuỳ thuộc vào mức độ phát triển kinh tế, thương mại của nơi đó. Địa phương có số lượng doanh nghiệp, cá nhân đăng ký nhãn đăng ký nhãn hiệu nhiều nhất là thành phố Hồ Chí Minh, chiếm hơn một nửa số lượng đăng ký của cả nước, tiếp theo là các địa phương Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai, Đà Nẵng… Ngược lại có địa phương như Bắc Kạn chưa từng có một nhãn hiệu nào xin đăng ký bảo hộ.
Một thực tế tồn tại là trong khi các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần… rất nhạy bén trong việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu thì các doanh nghiệp nhà nước, cá biệt là một số tổng công ty lớn lai khá thờ ơ trong việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, chỉ khi có tranh chấp hoặc gặp rắc rối với ở nước ngoài họ mới vội vàng xin đăng ký nhãn hiệu của mình. Phải chăng đây cũng là một tâm lý ỷ lại còn rơi rớt từ thời kỳ bao cấp, sự chậm trễ này đã gây những khó khăntốn kém cho chính bản thân doanh nghiệp khi nhãn hiệu của mình bị vi phạm hoặc bị chiếm đoạt.
Trong vài năm gần đây số lượng các doanh nghiệp Việt Nam xin đăng ký nhãn hiệu ra nước ngoài nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, bảo vệ thị trường của mình ở nước ngoài. Ngoài các đăng ký trực tiếp nhãn hiệu của mình ở thị trường Mỹ, Nhật và một số thị trường khu vực, nhiều doanh nghiệp đã thực hiện đăng ký nhãn hiệu ra nước ngoài theo Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu thông qua Cục Sở hữu công nghiệp. Năm 2001 chỉ có 7 nhãn hiệu đăng ký thông qua Thoả ước này thì năm 2002 đã có 31 nhãn hiệu đăng ký qua con đường này đến 52 quốc gia khác nhau thuộc Đông và Tây Âu, các nước thuộc Liên Xô cũ, Trung Quốc và Đài Loan.
Thực trạng và những nhận định nêu trên của việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá tại Việt Nam trong thời gian qua cho thấy sự cố gắng của các doanh nghiệp Việt Nam trong việc đăng ký nhãn hiệu – một tài sản trí tuệ của mình. Trong thực tiễn, tiếp theo việc đăng ký rất nhiều doanh nghiệp đã tiếp tục phát triển, khuyếch trương nhãn hiệu của mình bằng việc luôn giữ gìn và nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ, đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng và bằng các biện pháp nghiệp vụ khác. Nhiều nhãn hiệu đã được sự đánh giá cao của khách hàng trong và ngoài nước, tiêu biểu cho các ngành hàng, ngành dịch vụ chủ lực của ta. Một số nhãn hiệu của Việt Nam đã được định giá cụ thể trong các hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu đã được ghi nhận nhiều năm về trước: “P/S” 5 triệu USD, “Dạ lan” 2,5 triệu USD… Tuy vậy, con số nhãn hiệu đã đăng ký và các nhãn hiệu thực tế đã được thị trường thừa nhân chưa nhiều so với tổng số khoảng 10 vạn doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đang hoạt động tại Việt Nam hiện nay, nó cũng cho thấy có những khoảng cách đáng kể về việc nhận thức về vai trò và giá trị của các nhãn hiệu của doanh nghiệp trong và ngoài nước mà nhiệm vụ của chúng ta phải nỗ lực để sớm giảm thiểu và lấp đầy.
chương trình hỗ trợ doanh nghiệp



