Archive for the '3. Hồ sơ Tài Liệu' Category

Lần thứ hai trong vòng 6 tháng, nhà nghiên cứu Phan Thuận An hiến tặng tờ Châu bản triều Nguyễn liên quan đến chủ quyền quần đảo Hoàng Sa – Việt Nam.Chiều nay (25/12), tại nhà số 31 Nguyễn Chí Thanh, TP Huế (phủ của Công chúa Ngọc Sơn – con gái thứ 2 vua Đồng Khánh, cô ruột vua Bảo Đại), UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế đã tiếp nhận tờ Châu bản.

Read Full Post »

Từ tờ sắc lệnh của vua Minh Mạng…

Sắc lệnh này do bố chánh tỉnh Quảng Ngãi đưa ra vào tháng thứ tư năm thứ 15 đời Vua Minh Mạng, tức là năm 1834, về việc cử một đội gồm 3 chiếc tàu cùng với 24 thủy thủ tiếp tục tuần tra và bảo vệ Hoàng Sa.

Ông Đặng Lên vốn chỉ là một người dân bình thường sống trên đảo Lý Sơn.

Gia đình ông Lên đã trao tặng lại bản sắc lệnh trên cho Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch (VH-TT&DL) tỉnh Quảng Ngãi. Sở đã chuyển văn bản này cho Bộ Ngoại giao hồi tháng 4/2009.

Nhà nghiên cứu về quần đảo Hoàng Sa kiêm Phó giám đốc Sở VH-TT&DL tỉnh Quảng Ngãi, Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ cho rằng sắc lệnh này rất có giá trị vì đây là bản gốc.

Ông Vũ nói: “Việc tìm ra văn bản này khẳng định một điều là hằng năm Vua Minh Mạng đã cử nhiều đội tàu và các thủy thủ hàng đầu đi tuần tiễu Hoàng Sa. Đây là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cho thấy sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương trong việc vẽ bản đồ, dựng cột mốc, trồng cây và bảo vệ quần đảo.

Nhiều thủy thủ Việt Nam đã thay nhau có mặt trên quần đảo Hoàng Sa. Họ đi bằng thuyền rộng khoảng 3 mét, dài 12 mét, có thể chở được từ 10-12 người. Các con thuyền này mang theo đủ nước và thức ăn cho các thủy thủ trong 6 tháng. Nhiều thủy thủ Hoàng Sa đã không bao giờ trở về nữa”.

Nhiều hòn đảo thuộc quần đảo này được đặt theo tên của những thủy binh Hoàng Sa nổi tiếng như suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật và thủy thủ Phạm Quang Ảnh.

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện thuộc Viện Hán – Nôm, người đã dịch văn bản trên, cho biết nội dung của sắc lệnh chứng tỏ rằng, bảo vệ quần đảo Hoàng Sa là một ưu tiên hàng đầu đối với nhà nước phong kiến. Ông nói: “Sắc lệnh trên không chỉ là bằng chứng lịch sử cho thấy, quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam mà nó còn là một thông điệp từ cha ông chúng ta gửi tới các thế hệ tương lai, nhắc nhở chúng ta biết và có trách nhiệm bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước”.

Bằng chứng lịch sử cho thấy Việt Nam đã chính thức quản lý quần đảo Hoàng Sa từ năm 1816, thời Vua Gia Long thuộc triều Nguyễn.

Điều này được chỉ rõ trong các ghi chép của các học giả phương Tây, trong đó có Giám mục Jean Louis Taberd (1794-1840), Jean Baptiste Chaigneau (1769-1832), Gutzlaff và Dubois de Jaucigny trong các cuốn sách và nhật ký của họ xuất bản từ năm 1838 đến 1850, trong đó miêu tả trại lính và trạm thu thuế của Việt Nam trên quần đảo này.

Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã, người đã dành cả cuộc đời nghiên cứu về Hoàng Sa, khẳng định: “Năm 1816 là thời điểm Vua Gia Long chính thức cho thủy quân quản lý Hoàng Sa. Nhưng từ rất lâu trước đó, các triều đình Việt Nam đã quản lý Hoàng Sa bằng các đội dân binh. Theo luật pháp quốc tế, chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa đã được thiết lập trước bất kỳ nước nào khác”.

…đến các văn bản khẳng định chủ quyền Hoàng Sa

Một tờ châu bản (văn bản hành chính có bút phê của nhà vua) với chữ ký của Vua Bảo Đại (1913-1997) có nội dung liên quan tới chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa mới được nhà nghiên cứu Phan Thuận An tìm thấy và bàn giao cho Bộ Ngoại giao.

Châu bản có viết: Ngày 10/2/1939, Tòa Khâm sứ Pháp ở Trung Kỳ đề nghị Nam triều tặng thưởng huy chương Long tinh cho một đơn vị lính khố xanh Việt Nam ở Trung Kỳ, do họ đã có công lập được đồn phòng thủ quân sự ở đảo Hoàng Sa”.

Nhà vua đã phê chuẩn đề nghị trên vào ngày 15/2/1939.

Ngày 11/8, ông Đoàn Trọng Biên, cựu trưởng làng Mỹ Lợi ở Thừa Thiên-Huế cho biết làng đang lưu giữ tờ văn bản chữ Hán có liên quan đến chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa.

Văn bản được lập năm 1759, cách đây 250 năm, do viên quan Thuận Đức Hầu trấn giữ cửa biển Tư Hiền (Phú Lộc, Thừa Thiên – Huế) lập để xét xử vụ tranh kiện giữa 2 làng liên quan đến một con thuyền của đội Hoàng Sa sử dụng.

Với đầy đủ bút tích, khuôn dấu và chữ ký, văn bản đã chứng minh rằng từ thời nhà Lê, Việt Nam đã có đội Hoàng Sa chuyên trách quản lý và khai thác sản vật ở quần đảo Hoàng Sa.

Một số nhân chứng từng sống và làm việc trên quần đảo Hoàng Sa trước năm 1974, khi quần đảo này vẫn thuộc sự quản lý của chính quyền miền Nam Việt Nam, đã liên lạc với chính quyền huyện đảo Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng.

Chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa, ông Đặng Công Ngữ cho biết: “Họ đã trao cho chính quyền hơn 500 tài liệu, thư tịch, hiện vật quan trọng về Hoàng Sa. Chúng tôi sẽ sử dụng các tài liệu này xây dựng cuốn kỷ yếu về Hoàng Sa. Chúng tôi đã thành lập Bảo tàng Hoàng Sa, với một địa điểm tại Bảo tàng Lịch sử thành phố Đà Nẵng và một tại số nhà 132 phố Yên Bái, Đà Nẵng”.

Ông nói mình và các đồng sự sẽ tiếp tục tìm kiếm các bằng chứng, góp sức vào cuộc đấu tranh trong nhiều lĩnh vực, như chính trị, ngoại giao, công tác tuyên truyền, để giữ trọn vẹn chủ quyền lãnh thổ. “Chúng tôi sẽ cùng toàn thể nhân dân Việt Nam tiếp tục đấu tranh, để khẳng định trước công luận cộng đồng quốc tế sự thật này: Hoàng Sa mãi mãi là một phần máu thịt không thể chia cắt của Việt Nam”.

Ngày 20/4/2009, chính quyền huyện đảo đã tổ chức một cuộc họp mặt những người từng sống và làm việc trên quần đảo này. Tất cả những người này đều đang ở vào những năm cuối của đời mình. Người trẻ nhất là ông Nguyễn Văn Cúc, hiện đã 61 tuổi, đang sống tại huyện Sơn Trà, TP Đà Nẵng.

Ngồi bên hàng cây xoài rậm lá, gió biển thổi vào mát rượi, ông Cúc hồi tưởng lại thời trai trẻ sống và làm việc trên quần đảo. “Tôi là một lính công binh của chế độ Sài Gòn. Tôi được đưa ra Hoàng Sa 3 lần trong các năm 1972, 1973 và 1974 để khảo sát, xây dựng cơ sở vật chất trên đảo”.

Một trong những nhiệm vụ của ông Cúc là sửa chữa một hệ thống gồm gần 30 hầm chứa nước xây dưới lòng đất xung quanh trạm khí tượng thủy văn trên đảo Hoàng Sa. Ông Cúc nói: “Mỗi hầm chứa hơn 1.000m3 nước. Các hầm này được xây từ thời Pháp. Nhiệm vụ của chúng tôi là sửa chữa và xây thêm hầm để phục vụ dự trữ nước ngọt cho toàn quần đảo”.

Vào ngày 14/1/1974, ông Cúc thực hiện chuyến đi cuối cùng tới Hoàng Sa để tiến hành khảo sát, chuẩn bị xây dựng một sân bay trên đảo.

“Nhưng sau đó chiến sự xảy ra vào ngày 19 và 20/4/1974 giữa quân đội Việt Nam đóng giữ đảo và Hải quân Trung Quốc. Tôi cùng hơn 30 người lính đóng trên đảo và một số nhân viên đài khí tượng đã bị bắt và đưa về Quảng Châu. Hơn một tháng sau chúng tôi được đưa về Hồng Công bàn giao cho Hội Chữ thập đỏ. Bay từ Hồng Công về Sài Gòn, khi bay ngang qua Hoàng Sa, anh em ai nấy đều đau xót khi nhìn dải đất thân yêu vừa chìm trong khói lửa, tạm bị mất. Giấc mơ xây dựng sân bay của Việt Nam tại Hoàng Sa của chúng tôi đã thành dang dở” – ông thẫn thờ nói.

Ông Cúc nói: “Cuộc gặp mặt vừa qua là một dịp tốt để các công dân Hoàng Sa chia sẻ ký ức về những năm tháng sống trên đảo”. Ông Cúc cho biết ông rất sẵn lòng chia sẻ câu chuyện về cuộc sống thời trai trẻ của các ông trên đảo với thế hệ trẻ: “Nếu ngành giáo dục có yêu cầu, chúng tôi sẵn sàng kể chuyện Hoàng Sa cho các em học sinh, sinh viên trong những giờ học sử ngoại khóa”.

Ông Nguyễn Nhự.
Người nhiều tuổi nhất trong số những cựu công dân Hoàng Sa là ông Nguyễn Nhự, hiện đã 83 tuổi, đang sống tại huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng.

Ông kể: “Tôi là một nhân viên khí tượng thủy văn. Tôi làm việc tại Hoàng Sa, tổng cộng 9 tháng, trong quãng thời gian từ năm 1968 đến 1971″.

Ông kể: “Trên đảo chính là đảo Hoàng Sa có một ngôi miếu nhỏ thờ tượng Phật bà Quan Âm cao 1,5 mét, một cái giếng nước cổ và một khu nghĩa địa của người Việt. Theo lề thói lâu đời, những người Việt Nam ra Hoàng Sa dù là dân thường, lính hay viên chức đều mang theo nhiều hương hoa và vàng mã để cúng những người Việt xưa đã nằm lại trên quần đảo này”.

Theo Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Đà Nẵng Huỳnh Văn Hoa, ngành giáo dục địa phương đang có kế hoạch giáo dục về lịch sử Hoàng Sa tại các trường học Đà Nẵng. Ông Hoa nói: “Lịch sử quần đảo Hoàng Sa sẽ được đưa vào chương trình chính khóa của các trường học tại Đà Nẵng bắt đầu từ năm học 2009-2010. Chúng tôi sẽ tổ chức các chuyến đi cho giáo viên và học sinh để họ nghiên cứu về văn hóa và lịch sử của quần đảo này tại các viện bảo tàng, các đình làng, các địa chỉ liên quan đến Hoàng Sa. Chúng tôi cũng sẽ tổ chức các buổi gặp mặt với những người từng sống tại Hoàng Sa để họ chia sẻ câu chuyện của mình cho thế hệ trẻ”.

Nghe thông tin này, ông Cúc rất mừng. Ông nói: “Người dân nói chung, đặc biệt là học sinh và sinh viên, sẽ tiếp cận được nhiều hơn với các thông tin và văn bản lịch sử về Hoàng Sa. Chúng tôi sẽ không còn cô đơn với những ký ức của mình nữa”.

Đối với những người như ông Cúc, tăng cường sự gắn bó của người dân Việt Nam đối với quần đảo này cũng là một cách lưu giữ quá khứ.

Những câu chuyện sống động về Hoàng Sa sẽ còn được kể mãi, và quần đảo này sẽ tiếp tục được người dân Việt Nam, đặc biệt là những thế hệ trẻ, nhắc nhở và nhớ đến
An Ninh Thế Giới

Read Full Post »

50% nam giới cho rằng người ta ngoại tình nơi công sở là muốn có cảm giác lạ, 40% cả nam lẫn nữ được hỏi cho rằng chuyện này có thể xảy ra với họ, 10% “thú nhận” chuyện này từng xảy ra với mình…, và còn rất nhiều điều bất ngờ khác.
50% đàn ông và 65% phụ nữ cho rằng người ta ngoại tình công sở là do thường xuyên gặp gỡ nhau, do nhận được sự quan tâm giúp đỡ trong giải quyết công việc.

Read Full Post »

Hai đứa con trai cũng đã thay đổi nhiều: John năm nay đã mười tám, Spencer mười sáu. Cả hai đều lớn bổng lên, phổng phao, khỏe mạnh. Và thay đổi sâu sắc về mặt tư cách đạo đức. Sau khi Elisa qua đời, người bố tự mình lo việc giáo dục hai đứa con, tất cả tình thương yêu dành cho vợ, bây giờ ông trao hết cho con. Nói là ông cưng chiều chúng có lẽ chưa đủ, vì cưng chiều không có nghĩa là thỏa mẵn bất cứ đòi hỏi nào của con cái. Đằng này, ông Kenneth không bao giờ từ chối một yêu sách nào của hai đứa con. Chúng đòi mua món đồ chơi vừa trông thấy trong tay thằng bạn con nhà tỷ phú ư? Có ngay. Một thằng phàn nàn người hầu của nó không chịu ngồi yên để nó thúc mũi giầy bào mạng mỡ anh ta ư? Lập tức ông chủ ra lệnh đuổi ngay anh hầu. Vừa đủ tuổi quy định, mỗi đứa đều được bố tặng vài ba chiếc mô tô phân khối lớn, sau đó là những chiếc xe hơi. Những chứ không phải một…
Ít lâu nay, ông Kenneth bắt đầu thấy lo lo, John lại vừa tông nát chiếc xe hơi thứ hai của nó. Lần này nó còn làm một người đi đường bị chấn thương…
Spencer tuy mới mười sáu tuổi nhưng không chịu kém. Nhiều lần bị giải vào đồn cảnh sát vì đánh lộn gây thương tích. Cả hai chẳng thiết học hành gì nữa, ngày đêm la cà hết quán rượu này tới hộp đêm khác trong thành phố, tới đâu gây chuyện bê bối tới đó. Mỗi khi các con càn quấy gây thiệt hại ở đâu đó, ông Kenneth lại vung tiền bồi hoàn gấp nhiều lần tổn thất, dàn xếp ổn thỏa chẳng ai thưa kiện thắc mắc gì. Đôi khi ông rụt rè trách móc con liền bị chúng gạt phăng:
- Có sao đâu bố? Vì bố nhiều tiền, khỏi lo. Tuổi chúng con là tuổi chơi bời thoải mái…
Tuy bắt đầu lo lo, nhưng ông Kenneth thấy chưa cần phải mạnh tay, chỉ thỉnh thoảng nhắc nhở qua loa thôi, Ông muốn các con được hạnh phúc trong cuộc sống, niềm hạnh phúc ông không kịp trao tặng trọn vẹn cho Elisa đã ra đi quá sớm…
Lúc hai mươi mốt giờ ngày 06 tháng Ba năm 1974, Kenneth đang ngồi đợi hai con đi từ sáng chưa thấy về, bỗng nghe tiếng còi hụ ngoài đường. Tiếng bánh xe rít trên sỏi. Hai cảnh sát đi kèm John và Spencer giải vào. Viên trung úy lịch sự nói với nhà tỷ phú:
- Thưa ông Kenneth, chúng tôi dẫn hai con trai của ông về. Vì là con ông nên chúng tôi bỏ qua. Nhưng đây là lần cuối cùng.
John và Spencer cười nhâng nháo khi ông Kenneth lo lắng hỏi trung úy:
- Lạy Chúa, chúng nó sinh sự gì vậy?
- Lấy trộm chiếc xe đạp.
- Ủa để làm gì mới được chứ?
Trung úy cảnh sát nhìn thẳng vào mắt nhà tỷ phú:
- Thưa ông Kenneth, ông nên hỏi các con ông thì hơn. Tôi chỉ có một lời khuyên: ông cần quản lý chặt hai cậu con, trước khi quá muộn…
Tiễn chân cảnh sát ra về, ông Kenneth vào hỏi hai đứa:
- Sao các con lại làm chuyện đó? Ăn cắp một chiếc xe đạp, lạ thiệt. Muốn mua mấy trăm chiếc chả được?
Spencer cười nhăng nhở:
- Bố chẳng hiểu gì hết! Xoáy chơi cho vui vậy thôi, để coi thử có những phản ứng gì. Chẳng lẽ chỉ bọn khố rách áo ôm mới trộm cắp, còn bọn con lại không?
Không tự chủ được nữa, Kenneth Benson giang thẳng tay tát giữa mặt Spencer. Phản ứng quyết liệt của người bố lần đầu tiên nổ bùng khiến thằng con choáng váng, đứng lặng hồi lâu rồi co cẳng chạy khỏi nhà. Thằng anh bám theo. Lát sau, tiếng mô tô phân khối lớn gầm lên. Còn lại một mình trong nhà, ông Kenneth bưng đầu gục xuống. Tất cả sự thực phũ phàng đột ngột phơi bày trước mắt…
Lỗi tại ông. Không nuôi dạy hai đứa con với tình thương yêu sáng suốt, ông đã làm chúng thối nát. Đã biến chúng thành quái vật, thành những hạt giống sát nhân. Ôi, giá như mẹ chúng vẫn còn chắc chắn tình hình sẽ khác hẳn, nhưng đau khổ thay, Elisa đã vắng bóng từ mười hai năm nay!
Ngay lập tức, Kenneth có một quyết định dứt khoát. Vốn là con người hành động, khi thấy có vấn đề đặt ra là ông tìm bằng được cách giải quyết rốt ráo. Tin rằng John va Spencer hư hỏng vì thiếu vắng sụ giáo dục của một người mẹ, ông quyết định: mình sẽ tục huyền. Cáng sớm chừng nào càng hay!
Kenneth Benson đã bắt tay vào việc thì tất yếu công việc phải được giải quyết trong thời gian ngắn nhất. Một tuần sau ông chấm được ý trung nhân. Người trúng cử là Dorothy Smith. Một phụ nữ bốn mươi lăm tuổi, tóc nâu sậm, người khô đét và dài như cây sào, khuôn mặt nhiều góc cạnh. Kenneth không quan tâm tới vẻ ngoài không mấy hấp dẫn của người vợ mới. Ông ấn định ngay vị trí và chức trách cho bà ta. Không có chuyện chăn gối gì hết, điều duy nhất phải làm cho tốt: dạy dỗ hai đứa con trai, không để chúng biến thành hai kẻ giết người. Dorothy Smith hiểu rất rõ nhiệm vụ được giao:
- Ông cứ tin ở tôi. Tôi chỉ yêu cầu ông đảm nhận mọi chi phí trong gia đình.
Nhà tỷ phú nhận lời. Đám cưới được tổ chức tháng Sáu năm 1974, rất giản dị. Từ đó tình hình biến đổi hẳn…
Dorothy ngự trị trong biệt thự Elisa như một nữ hoàng tối thượng. Nắm chặt tay hòm chìa khóa, kẻ ăn người ở phải tường trình mọi khoản chi tiêu mỗi ngày. Và dĩ nhiên, John cũng như Spencer đều bị cắt đứt mọi khoản tiêu vặt. Mô tô và xe hơi đều bị tịch thu hết. Việc học hành được mẹ kế giám sát rất chặt, một lời đe dọa được lặp lại nhiều lần: nếu không đủ điểm sẽ bị đuổi khỏi biệt thự, đi nơi khác ở và kiếm việc làm để sống như mọi người…
Thời gian đầu, hai anh em tìm mọi cách chống lại nền trật tự mới, nhưng chúng nhanh chóng nhận ra đối thủ cao tay hơn nhiều. Mỗi lần chúng phản đối đều bị Dorothy trừng mắt nhìn tuyên bố đanh thép:
- Mẹ đã quyết định như vậy, các con cứ vậy mà làm. Không bằng lòng thì đi khỏi nhà này…
Phải công nhận Dorothy rất công bằng, đối xử với hai anh em như nhau nên không đứa nào dám tỵ nạnh. Hai anh em biết thân biết phận nghiến răng chịu đựng, ôm chặt hận thù, giã từ cuộc sống phởn phơ trong hộp đêm, giã từ những cuộc đua xe bạt tử, những canh bạc bốc trời. Chúng phải vùi đầu vào học. Kenneth rất mừng. Nỗi tiếc thương người vợ trước vẫn âm thầm hủy hoại sức khỏe Kenneth rồi một bữa phá vỡ tim ông…
Một tuần sau công chứng viên của gia đình Kenneth Benson mở di chúc ông ta để lại. John và Spencer thực lòng yêu quý bố nên rất tiếc thương, nhưng lúc này chúng chỉ nghĩ tới một điều: được thừa kế gia tài, nhận hàng trăm triệu đôla, được vui chơi xả láng gấp nhiều lần trước… Phen này con mụ già thần nanh đỏ mỏ đừng hòng chọc gậy bánh xe!
Công chứng viên lấy giọng trịnh trọng đọc to: “Tôi để lại cho John và Spencer phần gia tài theo luật quy định tức là mỗi con tôi được nhận 300.000 đôla. Số tiền này sẽ được trao tận tay chúng khi nào vợ tôi là Dorothy qua đời. Tôi trao quyền cho Dorothy quản lý toàn bộ di sản của tôi. biệt thự Elisa là tài sản không chia phần, thuộc quyền sở hữu chung của hai con trai tôi và vợ tôi…”
Hai chàng té ngửa, gần nghẹt thở… Mất quyền thừa kế! Chúng bị mắt quyền thừa kế, chỉ được mỗi đứa 300 ngàn so với vô số triệu rơi vào tay mụ…
Dorothy ngồi thẳng lưng trên ghế bên khẽ nhấc miệng cười… Thì ra mụ đã biết từ trước. Đồ rắn độc!
John va Spencer căm uất nhìn mụ, trong mắt cả hai đứa lóe lên tia lửa hận thù man rợ… Tuy vậy bộ ba vẫn phải sống chung dưới một mái nhà, không ai chịu bỏ phần biệt thự của mình…
Thêm hai năm nữa qua đi. Bây giờ là tháng Ba năm 1979. Sự chung đụng trong biệt thự Elisa đã càng thẳng đến tột bực, mỗi hận thù của hai thằng con đối với dì ghẻ đã lên tới đỉnh điểm. Bỗng nhiên Dorothy Benson bị một cơn đột quỵ. Được cấp cứu kịp thời, mụ thoát chết. Bác sĩ của gia đình khi đưa mụ về nhà, dặn dò hai chàng:
- Điều chủ yếu là bà phải nghỉ ngơi tĩnh dưỡng. Nếu tái phát lần sau thì khó lòng…
“Nếu tái phát thì khó lòng…” Hai anh em chẳng cần đưa mắt, chẳng cần nói với nhau nửa lời đã hiểu rõ bụng nhau. Lời dặn dò ngắn gọn đã rút ngắn số mệnh Dorothy…
Một tháng sau, ngày 24 tháng Tư năm 1979, bác sĩ gia đình của nhà Benson nhận được cú điện thoại cấp báo:
- Mời tới ngay!
Bà mẹ kế chúng tôi ngát xỉu trong bồn tắm. Có vẻ nguy kịch. Bác sĩ phóng xe như bay tới biệt thự Elisa. Lao vào phòng tăm. Thoáng nhìn cũng biết ngay bệnh nhân đã hết thở. Dorothy ngòi bệt trong bồn, đầu lật ra sau, mắt trợn ngươc, mồm há hốc. Khám nghiệm qua loa, bác sĩ kết luận: chết vì suy tim. Ông cấp giấy phép chôn cất. Ông chẳng hồ nghi gì hết, kết cục bi thảm này đã được ông dự báo trước rồi.
Bác sĩ vừa đi khỏi, hai anh em thả sức bộc lộ niềm vui thắng lợi. Vị bác sĩ đáng kính đã sa bẫy. Án mạng đã được chúng dàn dựng tuyệt vời, không một kẽ hở nhỏ. Dù gia tài này có rơi vào tay đứa con gái riêng đời chồng trước của Dorothy thì mỗi đứa vẫn còn 300 ngàn đô và chiếc biệt thự này. “Chà, ngón đòn đúng là tuyệt chiêu! Thì ra mụ ta cũng không ghê gớm lắm. Ăn nhau ở chỗ dám liều. Dám liều nên hai đứa mình toàn thắng. Sự đồng tâm nhất trí của hai anh em mình là yếu tố quan trọng lắm lắm trong vụ này…”.
Ít bữa sau, John và Spencer lại có mặt trong văn phòng viên công chứng của gia đình. Con riêng của Dorothy ngồi bên hai anh em. Cô ta là người sẽ đút túi tài sản khổng lồ của nhà Benson. Hai anh em thỉnh thoảng lừ mắt nguýt đầy ghen tức. Nhưng biết không thể xoay chuyển tình thế, chúng ấm ức chấp nhận số phận, cam chịu bằng lòng với phần đã được chia. Và thản nhiên nhìn công chứng viên gỡ xi gắn chiếc phong bì đựng di chúc người mẹ kế. Lần này sẽ không có gì khiến chúng kinh ngạc như lần nghe di chúc của bố. Công chứng viên cất giọng nhà nghề đọc to: “Tôi, Dorothy Benson, tuyên bố người nhận toàn bộ di sản của tôi là Spencer Benson, con trai riêng của chồng tôi…” Không khí trong văn phòng lặng ngắt. Một lát sau, tiếng rú thất thanh, tiếng đổ ghế cái rầm. Con gái Dorothy vùng chạy đi, kêu khóc thảm thiết. Còn lại hai anh em đối diện công chứng viên. Chúng quay nhìn nhau hồi lâu.
Một tuần sau khi mở chúc thư của Dorothy Benson, ngày 09 tháng Năm năm 1979, John Benson dừng xe trước đồn cảnh sát cận biệt thự Elisa. Viên cảnh sát tiếp gã lại chính là trung úy cách đây vài năm đã bắt giữ hắn cùng với Spencer về tội trộm xe đạp.
- Thưa trung úy, tôi muốn lương tâm được thanh thản. Nên mới tố giác: em trai tôi phạm tội giết người. Nó dìm mẹ kế tôi chết ngạt để thừa hưởng gia tài…
Sau phút bàng hoàng dễ hiểu, trung úy hỏi thêm chi tiết. John khai báo cặn kẽ, chính xác. Ngay hôm đó, Spencer bị bắt tại Los Angeles giải về gặp trung úy. Trung úy không rào đón úp mở, ném thẳng vào gã lời buộc tội:
- Anh đã ám hại Dorothy Benson. Dìm bà chết ngạt dưới bồn nước tắm. Nào, khôn hồn thì thú nhận.
Gã tân triệu phú đôla lấy giọng trịch thượng:
- Biết đang nói chuyện với ai không trung úy?
Viên sỹ quan vẫn điềm nhiên.
- Đừng lên gân cho mệt. Tôi biết hết rồi. Anh trai anh đã bật mí.
Nghe vậy, gã gục liền. Nghe trung úy hạ lệnh bắt giữ, gã chợt bật tỉnh:
- Thế còn John? Ông đã bắt hắn rồi chứ? Hai chúng tôi chung sức giết mụ già mà. John Benson bị tóm nốt, cảnh sát Los Angeles thay nhau lấy khẩu cung nhưng gã một mực chối.
- Spencer tự tay làm từ đầu đến đuôi. Nó được thừa kế, đâu phải tôi. Tôi phản đối hành động đó.
Sau bảy mười hai giờ thẩm vấn, gã mới chịu nhận tội. Và tỏ vẻ nhẹ nhõm, thanh thản. Xin một điếu thuốc, rít lấy rít để. Rồi nhếch mép cười mỉm, vệt cười nhếch mép trông kỳ cục chuyển dần thành tiếng cười rũ rượi kéo dài mấy phút không sao kìm nổi. Mãi sau hắn mới nói được giữa hai đợt nấc cụt:
- Hay thật! Hay cực kỳ!… Di chúc của con đĩ già ấy… Tôi vừa hiểu ra rồi… Hiểu tại sao mụ cho thằng Spencer tuốt tuột mà không cho tôi một đồng nào… Mụ biết trước…
Gã ngưng bặt, lấy lại hơi thở dốc.
- Mụ biết trước thế nào cũng bị chúng tôi thịt, nên nghĩ mẹo chia rẽ hai anh em tôi. Cho Spencer hết, để tôi trắng tay, mụ buộc tôi phải nghi ngờ thằng em phản. Và cuối cùng tôi sẽ không chịu thua, sẽ tố giác để nó không được hưởng gia tài. Thế là cả hai đứa đều nhịn luôn. Cả hai chuột đều sa bẫy. Tờ di chúc hay thật!
Cái bẫy tài tình sập một phát được cả hai chuột liền. Dorothy Benson đối xử với hai anh em như nhau, không phân biệt, không thiên vị đứa nào tuy trong di chúc lại làm ra vẻ ưu đãi thằng em hơn. Hội đồng bồi thẩm tòa Los Angeles không phân biệt tội trạng của hai anh em nhà Benson. Cả hai tên đều bị buộc tội ngang như nhau, John và Spencer đều lãnh án tù chung thân.

Read Full Post »

Cách đây hơn ba hôm, ngày 6 tháng Hai năm 1960 trong phường anh xảy ra một vụ án mạng. Bà Peggy Marshall năm mươi lăm tuổi, vợ ông chủ ngân hàng Nick Marshall bị chết ngạt dưới chiếc gối bông, ngay trong gian phòng lộng lẫy của bà tại số 1136 đường Hoàng Hậu. Nửa đêm đó, ông chồng đi làm về thì phát hiện sự việc. Hơn nữa, chính ông đã chạm trán hung thủ. Lúc ông bước vào vườn nhà, bất chợt một gã đàn ông xô vào ông rồi bỏ chạy. Vào được trong phòng bà vợ thì ôi thôi, mọi sự đã rồi. Bà đã tắt thở. Toàn bộ nữ trang để trong tráp gỗ đặt trên mặt bàn ngủ đã không cánh mà bay. Không tới ba ngày sau hung thủ đã bị bắt giữ. Người chủ tiệm kim hoàn thấy anh ta gạ bán nhiều nữ trang quý giá đã tố giác. Cảnh sát chỉ việc tới lôi đi…
Bước vào văn phòng trung úy Clark là Francis Barber khoảng hăm lăm, tóc hung bốc lửa, hai tay đeo còng. Anh ta cười gằn hỏi sĩ quan cảnh sát:
- Lão chủ tiệm đồ vàng cũ tố giác, hử?
Trung úy Clark nhún vai:
- Ông ta không muốn dính dấp vào án mạng.
Thái độ Francis đột ngột thay đổi hẳn:
- Án mạng nào? Chuyện gì kỳ cục vậy?
Trung úy hơi gắt:
- Vụ giết bà Peggy Marshall chứ còn vụ nào nữa…
Nghe chưa dứt lời, da mặt Francis đã xám ngoét:
- Không đúng! Tôi không giết!
Viên cảnh sát nhìn gã, vẻ ranh mãnh:
- Tất nhiên, hẳn là thế… Tự bà ta chết ngạt vì chúi đầu vào cái gối trong lúc anh mải chôm nữ trang của bà… Tắt cái trò gạt gẫm trẻ con đó đi, Francis. Chính anh lấy những nữ trang đó, lát nữa chồng nạn nhân sẽ tới nhận mặt anh… Tốt hơn hết là hãy thú nhận ngay…
Francis Barber nhảy bật trên ghế:
- Xin thề độc, tôi không giết người. Để tôi kể ông nghe. Biết nhà Marshall giầu có, tôi lập kế hoạch lẻn vào. Tưởng bữa đó nhà vắng người, dè đâu khi vào lại thấy bà ta nằm ngủ trên giường. Tráp nữ trang đặt tên bàn đầu giường. Tôi lẹ tay lấy hết không làm bà ta tỉnh giấc…
Đúng lúc có tiếng xe hơi vừa dừng ngoài cổng. Ông chồng đi làm về. Tôi vội chạy ra. Tông phải ông ta ngoài vườn… Thưa trung úy, xin thề sự việc đúng như vậy.
Trung úy Clark không đáp. Nhân viên vào báo ông Nick vừa tới. Trung úy ra lệnh mời vào ngay. Vừa trông thấy Francis, chủ ngân hàng reo to:
- Nó đấy!
Đúng nó. Tóc hung hung đỏ. Không lẫn vào đâu được!
Trung úy quay sang nhìn Francis:
- Thế nào? Còn chối nữa không?
Chàng trai giẫy nẩy:
- Tôi cũng nhận ra ngay ông Marshall. Tôi chạy vội nên tông phải ông ngoài vườn. Tôi có chối đâu! Không chối tội ăn trộm. Nhưng tôi không giết vợ ông này. Thề có Chúa chứng giám!
Tháng Mười một năm 1980, đứng trước tòa Francis vẫn một mực thề mình vô tội. Trộm cắp thì có, giết người thì không đời nào. Nhưng bằng chứng buộc tội lại rất xác đáng: đồ nữ trang, lời khai của Nick Marshall thừa nhận đúng là gã…
Ngay luật sư bào chữa cho Francis cũng tránh né không nói nhiều về nội vụ. Ông nhấn mạnh tới tuổi niên thiếu bất hạnh của thân chủ. Bố bỏ đi khi còn rất nhỏ. Mẹ nuôi dạy trong những điểu kiện khốn khó. Hơn nữa, hồi bé đã bị chấn thương sợ não nặng vì té ngã… Vì vậy, đáng được tòa khoan hồng…
Quả nhiên tòa kết luận Francis phạm tội nhưng do quá khứ như vậy nên được hưởng những tình tiết giảm nhẹ. Do đó, chỉ bị phạt mười lăm năm tù giam. Trước khi bị giải đi, Francis kêu lần chót:
- Tôi vô tội! Tôi không giết bà Marshall!
Trong phòng xử, một bà mới trạc tuổi ngũ tuần nhưng trông già trước tuổi quay sang người ngồi kế bên:
- Tôi biết tính thằng nhỏ. Nó la lên vậy là nó bị oan thật… Trong những việc quan trọng, không bao giờ nó nói dối. Tôi tự tôi sẽ chứng minh nó vô tội!
Kite Barber, mẹ của Francis rời công thự Tòa án Sydney. Bước chân vẫn vững vàng không mảy may run rẩy. Bản án giáng lên đầu thằng con không làm bà gục ngã. Trái lại, bà cảm thấy mình có một sức mạnh không ngờ . Và biết rõ cần phải làm gì…
Vài ngày sau bà Kite Barber, vào ngồi trên chiếc ghế trong phòng đợi của nhà thám tử tư trứ danh. Lúc này bà mới hơi run run. Trong chiếc xắc tay đặt trên đùi có 1.000 đôla, tiền vừa bán chiếc trâm hồng ngọc của mẹ bà để lại. Vật quý duy nhất bà có được và thề không bao giờ rời xa. Mới đây, đọc báo bà được biết nhà thám tử George vừa giải quyết rất tài tình một vụ tranh chấp thừa kế rất phức tạp. Bà đặt hết hy vọng vào ông này. Vài phút sau, ngồi trong văn phòng bề thế trang bị cực kỳ hiện đại của thám tử, bà Kite rụt rè trình bày vụ việc.
- Tôi hiểu rõ con tôi. Từ hồi 17 tuổi nó đã bắt đầu chôm chỉa vì không sao kiểm nổi việc làm… Mà tôi thì làm sao chạy cho đủ mà nuôi con. Đâu phải lúc nào cũng có người thuê mướn giúp việc nhà cho họ… Quả tình cháu nó có bị bắt giữ nhiều lần, có ngồi tù một ít thật, nhưng nó không bao giờ giết người…
Kite Barber thò tay vào xắc lấy xấp 1.000 đô:
- Tôi van ông, ông thám tử, xin ông tìm ra thủ phạm cho! Tôi chỉ có bấy nhiêu, nếu chưa đủ, tôi sẽ làm việc đến hơi thở cuối cùng để trả tiền cho ông…
George Higgins phác một cử chỉ tỏ ý không nhận.
- Bà Kite Barber, mong bà giữ số tiền này. Nó có ích cho bà hơn cho tôi. Tôi sẽ làm việc giúp bà, miễn phí. Trường hợp của con bà khiến tôi quan tâm. Đọc tường thuật của các báo, tôi cũng cho rằng thái độ của con bà không giống thái độ của một kẻ phạm tội. – Ông cắt ngang mọi biểu thị nồng nhiệt của Kate. – Xin đừng cảm ơn. Theo một ý nghĩa nào đó, tôi cũng có lợi. Thành công trong vụ này sẽ là một màn quảng cáo rất ăn khách cho công việc của tôi.- Ông nói tiếp – Bà biết không, tôi đã có đầu mối cần tìm rồi. Lâu nay vẫn tự hỏi tại sao cảnh sát không điều tra người chồng. Vậy tôi sẽ làm chuyện đó.
Hiếm khi công việc của George Higgins lại mau lẹ và có hiệu suất cao như vậy. Chưa hết một tuần, ông đã nắm được nhiều điều đáng quan tâm xung quanh nhân vật Nick Marshall. Điều trước tiên: gia sản khổng lồ ông ta đang nắm do bà vợ gây dựng nên chứ không do công sức ông ta. Năm 1948, ông cưới Peggy, con của một đôi vợ chồng chủ trại cực kỳ giàu có. Nick bắt đầu nhảy vào kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng nhờ tiền của bố mẹ vợ. Chưa hết. Qua theo dõi Nick, thám tử phát hiện ông ta có nhân tình, một cô có tên Olivia Bedford hăm tám tuổi, nguyên là thư ký riêng của ông ta, hiện đang được bao trong căn hộ lộng lẫy ở Sydney. Đáng lẽ những việc này phải do cảnh sát tiến hành nhưng họ không nghĩ ra. George nói thẳng với trung úy Clark nhận xét của ông. Ông vốn đã từng là cảnh sát, nay vẫn giữ quan hệ tốt với đồng nghiệp cũ.
- Có bồ nhí, nhưng vướng bà vợ đang về già. Li dị thì mất hết. Đây không phải là động cơ gây án sao, trung úy?
Trung úy Clark lắng nghe rất chăm chú tất cả những phát hiện của viên thám tử tư. Và thấy cần thanh minh:
- Thú thật là tôi không nghĩ tới chuyện điều tra người chồng. Vì cho rằng tội của Francis đã sờ sờ ra đó. Nào ngờ lại có chuyện quái quỷ đến thế!
George gật gù:
- Đúng một tuyệt tác của kẻ lòng lang dạ thú. Sau khi bị Francis tông ngoài vườn. Nick chạy vội vào nhà và thấy vợ đang ngủ say. Nữ trang trên bàn không còn. Một ý tưởng chợt lóe lên trong đầu hắn: Phải chớp lấy thời cơ duy nhất này. Hắn vơ gối, đè Peggy ngạt thở. Hung thủ dĩ nhiên sẽ là tên trộm, bị chủ nhà bất chợt thức giấc trông thấy. Một án mạng kiểu này thật không thể từ chối thực hiện!
- Dĩ nhiên. Nhưng dị bản kia rất đáng chú ý: Francis cũng có thể là thủ phạm.
- Anh hoàn toàn có lý. Chính tôi cũng chưa tin hẳn chuyện Nick giết vợ. Nhưng cần có một cách khám phá ra sự thật. Có điều là… Có thể tôi sẽ cần tới thái độ trung lập có thiện cảm của anh, và có khi còn cần được mấy anh tiếp tay nữa. Bởi lẽ… cách của tôi thật ra không chính thống lắm.
George trình bày kế hoạch. Lát sau ông ra về, yên chí sẽ được cảnh sát hỗ trợ. Cuộc điều tra theo cung cách hơi đặc biệt của ông sắp bắt đầu. Ngay bữa đó, ông gọi tới nhà chủ ngân hàng.
- Chào ông Marshall… xin phép không xưng tên tôi. Tôi có áp phe cần bàn với ông.
George cảm thấy người đối thoại hình như định gác máy, vội tiếp:
- Tôi gọi điện cho ông về chuyện Bedford…
Im lặng ở đầu dây bên kia.
- Thưa ông Marshall, nghề chuyên môn của tôi là trộm cắp. Hồi nãy tôi vừa tới thăm nhà Olivia Bedford. Không kiếm được nữ trang, tiền bạc, nhưng lại được một thứ thú vị hơn…
Nick ngắt lời:
- Không đùa. Tôi không quen cô nào tên là Bedford.
Thám tử thản nhiên nói tiếp:
- Có, có đấy, ông quen thân là khác. Nhưng chắc ông không biết cô ta viết nhật ký… Nó đang nằm trước mắt tôi. Trong đó ghi rõ mối quan hệ giữa quý vị. Cô nàng trước kia là thư ký riêng, rồi bị ông quyến rũ. Điều này không đáng nói. Thú vị hơn là chỗ này này: ngày 7 tháng Hai năm 1980, tức một ngày sau khi vợ ông bị giết, cô Bedford viết trong nhật ký: “Nick thú nhận đã giết Peggy. Thật kinh khủng!…” Ông biết rõ điều gì còn kinh khủng hơn gấp bội chứ, ông Marshall? Đó là nếu cảnh sát nhận được cuốn nhật ký này làm bằng chứng…
Lại im lặng trong ống nghe… Chủ ngân hàng sẽ phản ứng thế nào? Đây là khoảnh khắc bộc lộ sự thật. Phản ứng của Nick rất ngắn gọn, chỉ vỏn vẹn trong hai từ:
- Bao nhiêu?
George đã chuẩn bị sẵn câu trả lời:
- 20.000 đô, tờ nhỏ. Ngày mai, lúc 18 giờ, trong nghĩa trang Bắc Sydney, lối đi số 3.
Ông gác máy. Bây giờ chỉ việc gọi điện cho trung úy Clark báo cáo kết quả và xin điều động cảnh sát tóm cổ Nick khi hắn nộp tiền. Trung úy chấp thuận kế hoạch nhưng muốn biết rõ một tình tiết:
- Tôi không hiểu tại sao Nick không hỏi cô ta về cuốn nhật ký trước khi…
George khoái chí ngắt lời:
- Tôi biết cô Bedford lúc này đang đi tới bên kia trái đất, sang tận nước Anh xa xôi. Làm sao Nick liên lạc được Trung úy thấy chưa, hắn bị dồn vào chân tường…
Hôm sau, vào lúc 18 giờ, trung úy Clark và nhân viên của ông nấp sau những ngôi mộ trong nghĩa trang Bắc Sydney thấy Nick Marshall đi tới, nách cắp chặt chiếc cặp. Lập tức Nick bị vây chặt và bắt giữ. Trong cặp da có 20.000 đô bằng giấy lẻ. Trung úy hét giữa mặt chủ ngân hàng:
- Ông Nick, ta có chuyện cần nói với nhau.
Qua vài giây sững sờ, Nick mau chóng lấy lại vẻ hung hăng vốn có.
- Chuyện gì? Tiền này của tôi, đầu phải tiền trộm cắp! Tôi có quyền dạo chơi với 20.000 đô trong tay chứ, phải không?
- Toàn bằng tiền lẻ? Và trong nghĩa trang?
- Thì đã sao? Ông cho biết đạo luật nào cấm công dân đi dạo trong nghĩa trang mang theo 20.000 đô giấy nhỏ?
- Chúng tôi có nguồn tin riêng, ông Nick! Biết ông tới chuộc quyển nhật ký của người tình Olivia Bedford trong có ghi lời ông thú nhận đã giết vợ.
- Nhật ký nào vậy? Đưa ra coi!
Trung úy thấy tình thế thế hơi bấp bênh.
- Dù sao, ông cũng phải giải thích rõ cho tôi chuyện này.
- Thôi được… tôi đang bị sức ép một cú săng ta về cô Bedford. Thú thật, cô ta đúng là bồ nhí của tôi. Một người như tôi không thể cho phép lan truyền những lời đồn đại lăng nhăng. Tôi tới đây với mục đích dập tắt vụ đó. Còn cái chết của bà xã tôi thì chẳng liên quan gì tới sự này. Vu khống trắng trợn đến thế là cùng.
Trung úy Clark không đôi co, Nick có lý: Không có bằng chứng cụ thể nào buộc tội hắn, hơn nữa hắn thuộc loại có vai vế đáng nể, đụng vào không dễ. Bắt giữ thằng lúc này là chơi với lửa. Nhưng trung úy tin chắc hắn phạm tội, không thể buông tha. Ông sẽ tận dụng thời hạn tạm giữ do pháp luật quy định, hy vọng từ nay tới khi hết hạn sẽ có sự kiện gì mới…
Quả nhiên, sự kiện đó xảy ra ngay hôm sau, dưới dạng chuyến bay London – Sydney. Olivia Bedford từ Anh trở về. Được cảnh sát sân bay cấp báo, trung úy Clack lập tức ra lệnh đưa cô nàng tới văn phòng đồ cảnh sát để đối chất với Nick. Vừa trông thấy Nick, cô ả đã hốt hoảng kêu lớn:
- Tôi không có tội! Không tiếp tay ông ta! Một mình ông ta làm hết!
Nick tái mặt. Hắn biết mình đã thua cuộc, thẫn thờ bảo Bedford:
- Đồ ngu! Ai bảo viết nhật ký!
Olivia Bedford ngơ ngác:
- Nhật ký nào? Anh nói gì lạ vậy?
- Chủ ngân hàng nhăn mặt nhìn viên trung úy:
- Đểu! Quá đểu! Không chính quy nhưng quá giỏi!
Tòa trả tự do cho Francis ngay tức thì. Tuy tội trộm cắp gã phạm đáng phạt tù lâu hơn, nhưng xét thấy trận thử thách vừa rồi đã đủ cho gã đền tội nên tòa cho gã được tự do có điều kiện.
Tháng Sáu năm 1981, chủ ngân hàng Nick và cô bồ nhí ra trước tòa. Cô ả được trắng án, Nick ngồi tù chung thân. Số phận? Francis Barber ra sao đây?
Sau khi được tha, anh kiếm ngay được chỗ làm: chạy giấy tờ cho George Higgins, thám tử.

Read Full Post »

Hắn mướn phòng số 11 từ hai tháng nay. Xưng tên là Muller, quốc tịch Đức, nhưng chắc là người Nga… Bốn ngày nay không thấy thò mặt ra ngoài, nhưng tôi biết chắc hắn có ở trong phòng. Nhiều lần tôi thử mở cửa, nhưng cửa khóa trái.
Trung úy Boris dẫn hai cảnh sát tới ngay đường Letchourov. Đúng là cửa phòng 11 khóa từ bên trong. Không có cách nào khác, phải phá cửa…
Vừa thò mũi vào, các cảnh sát viên đã bị một mùi kinh tởm xộc lên tận óc, trước mắt hiện ra cảnh tượng hãi hùng: trên chiếc giường dơ dáy, nằm thõng thượt cái xác đồ sộ nhưng cụt đầu của một người đàn ông bận comple. Lát sau, một cảnh sát nhìn thấy trong lò bếp cái đầu cháy thành than. Ngoài ra không có dấu vết gì: không giấy tờ tùy thân, không tư trang, không quần áo nào khác ngoài bộ trên thi thể nạn nhân. Rõ ràng hung thủ đã dọn kỹ trước khi tẩu thoát. Và chuồn qua cửa sổ, tụt theo máng xối, nên phòng vẫn khóa trái.
Trung úy Boris biết mình bị vướng vào một vụ khó gỡ. Theo thói quen nhà nghề, anh nhìn chiếc veston của nạn nhân. Biết đâu đấy, có thể hung thủ quên không gỡ bỏ nhãn hiệu tiệm may. Chuyện này thường hay xảy ra. Quả nhiên như thế thật. Trung úy Boris đọc trên túi áo trong dòng chữ: “Nikitine, thợ may. Saint Pétersbourg”. Trung úy tìm địa chỉ trong sổ rồi lao tới. Nikitine là một ông già, mắt rất tinh tường nhanh nhẹn. Vừa trông thấy chiếc veston trung úy đưa ra, ông già nói ngay:
- Tôi mới làm cách đây hai tháng thôi. Chờ tôi coi sổ nghe!
Trong khi bác thợ may lúi húi tra sổ, trung úy Boris cầu trời ông ta đừng tìm phải cái tên Muller, rõ ràng đây là tên giả…
Nhưng một lần nữa, may mắn lại mỉm cười với trung úy. BácNikitine trở ra, chìa cuốn sổ:
- Đây rồi, trung úy. Người may bộ đồ này tên Vladimir Yakov, buôn bán xà bông ở Saint Pétersbourg.
Trung úy phấn khởi rời tiệm may. Sau có vài giờ, cuộc điều tra của anh tiến triển như đi hia bảy dặm. Bây giờ là lúc tìm hiểu kỹ về Yakov, tính cách nhân vật này có khi giúp tìm ra hung thủ. Và lần thứ ba này, may mắn lại thuọc về trung úy. Gã Yakov, ba mươi tuổi có tên trong sổ đen của cảnh sát. Hắn đã có tiền án về tội trộm cắp và hành vi trái đạo đức với thanh niên. Hồ sơ có hình nhưng tiếc rằng không có vân tay. Vì hồi lập hồ sơ, chưa có quy tắc phải lấy vân tay. Hôm sau, trung úy Yarochenko nhận được biên bản của bác sỹ pháp y, xác nhận các ý tưởng của anh: nạn nhân khoảng ba mươi, không có dấu vết gì đặc biệt ngoài chiếc sẹo nhỏ bên đùi trái…
Trung úy triệu bà Valentina Yakov, mẹ người bán xà bông tới văn phòng. Bà mặc đồ đen gần như ngã phịch xuống ghế, rút khăn chấm chấm hai mắt. Trung úy muốn tránh cho bà khỏi cơn thử thách quá nặng nề: tới nhà xác để nhận mặt cái xác không đầu. Vả lại, bà già làm sao nhận ra nổi?
Anh hỏi:
- Theo bà, con trai bà có dấu vết gì đặc biệt không?
Bà Yakov không chần chừ:
- Có, một vết sẹo trên đùi trái. Tự gây ra từ hồi nhỏ xíu.
Vậy là không còn nghi ngờ gì nữa. Trung úy Yarochenko ngỏ lời chia buồn cùng bà mẹ khốn khổ. Định hỏi vài câu, nhưng lại thôi, để sau sẽ hỏi. Việc khó khăn nhất đã làm xong, nếu vận may vẫn còn chắc sẽ gỡ ra hết trong thời gian ngắn. Nhưng trung úy không ngờ tới những chuyện sẽ xảy ra tiếp. Cho tới giờ, anh toàn gặp may, ít ra là có vẻ may. Từ lúc này trở đi, anh sẽ gặp hết bất ngờ này tới ngạc nhiên khác…
Đầu tiên là cuộc viếng thăm của Mikhail Golovine ngay sáng hôm sau. Mikhail Golovine nhỏ thó, dáng vẻ tầm thường. Trung úy tiếp ông tại văn phòng sau khi biết ông định nói về vụ Yakov. Ông mở đầu với giọng nhỏ nhẹ:
- Thưa trung úy, tôi tới để hỏi xem có thể xin một văn bản chính thức chứng nhận nạn nhân đúng là Vladimir Yakov?
Boris tỏ vẻ ngạc nhiên:
- Tôi tin chắc như vậy. Sao ông lại hỏi thế?
Mikhail Golovine vẫn nhỏ nhẹ:
- Tôi là đại điện công ty bảo hiểm “Phượng Hoàng”. Ông thấy đấy, chúng tôi phải có chứng thực đó mới chi tiền. Số tiền rất lớn.
Trung úy cảm thấy công trình anh xây tưởng là chắc chắn hóa ra lại có vết nứt.
- Số tiền lớn lắm à?
- Phải. Cách đây ba tháng, ông Yakov đăng ký bảo hiểm nhân thọ 250.000 rúp, nhân đôi nếu bị chết bất đắc kỳ tử, nghĩa là 500.000 rúp. Người thụ hưởng là bà mẹ, tên Valentina Yakov. Đầu óc trung úy rối tung. Phải chăng sự thật lại phức tạp, lại khủng khiếp hơn anh tưởng đến vậy sao?
Nạn nhân không phải là người anh đã phát hiện sao?
Những tình cờ mà anh cho là vận may: nhãn hiệu trên áo veston, tên người ghi trong sổ…chẳng lẽ chỉ là những dấu vết ngụy tạo đề đánh lạc hướng?
Nếu vậy, Yakov không phải là nạn nhân đáng thương mà lại là hung thủ đáng trừng trị… Có lẽ vì vậy nên hung thủ phải chặt đầu nạn nhân và thiêu cháy để phi tang…
Nhưng bà già Yakov nói trên đùi trái có vết sẹo. Một ý nghĩ khủng khiếp thoáng hiện trong đầu viên trung úy.
Không! Đời nào bà ta bịa chuyện để lĩnh 500.000 rúp! Người mẹ khóc thương con thảm thiết như vậy chắc không đang tâm giết con. Nếu thế thì thật quái gở. Nhưng trên đời này vẫn có những quái vật đấy chứ!…
Dù sao, ngay lúc này trung úy chưa thể nói gì với đại diện công ty bảo hiểm, chỉ tuyên bố ngắn gọn: cuộc điều tra đang tiếp tục. Đang tiếp tục, hay đang bắt đầu từ con số không thì đúng hơn. Boris thấy cần hỏi Valentina đôi điều…
Bà già ngụ trong căn nhà nhỏ ven đô Saint Pétersbourg. Từ xa, trung úy thấy bà ngồi trên bực cửa. Tự nhiên không hiểu vì sao, anh rón rén nấp sau hàng rào tiến tới gần. Khi biết đã có thể nhìn được rõ, anh dướn người lên đảo mắt và thấy tim giật thót: bà mẹ tội nghiệp vừa tủm tỉm cười. Phải, cười với vẻ khoái trá…
Đúng lúc đó thì phát hiện ra Boris, bà già giật mình, rút vội chiếc khăn trong túi. Khi Boris tới bên, mặt bà già đã đầm đìa nước mắt. Bà hỏi trung úy bằng giọng của người hấp hối:
- Trung úy đã tìm ra hung thủ rồi chứ?
Boris đáp với giọng cục cằn ngoài ý muốn:
- Chưa. Kể tôi nghe về bạn bè của con bà!
Valentina khó nhọc kể:
- Vladimir kín lắm. Ít chuyện trò với mẹ. Tôi chỉ biết nó thường hay lui tới một phòng tắm hơi kiểu Phần Lan ngay gần nhà nó và kết bạn ở đó…
Trung úy không khai thác được gì hơn, bỏ về. Trong bụng cảm thấy nhẹ nhõm: hướng điều tra phải thay đổi, Valentina đúng là con quái vật đã giết hoặc có thể đã thuê giết con trai để lĩnh tiền bảo hiểm. Giờ đây, anh phải tìm ra kẻ đã thực thi vụ án mạng ghê tởm này, mụ già Valentina rõ ràng không thể tự tay hành quyết thằng con. Sự tàn nhẫn quái vật dù sao cũng có giới hạn.
Chủ phòng tắm hơi tỏ vẻ khó chịu ra mặt khi cảnh sát tới.
- Cơ sở này rất đàng hoàng. Khách của tôi toàn những vị đáng kính trọng.
Trung úy liếc mắt nhìn qua cơ ngơi tồi tàn, không như chủ nó vừa vỗ ngực khoe. Nhưng anh không quan tâm chuyện này.
- Kể tôi nghe về Yakov. Ông biết người đó chứ?
Giám đốc phòng tắm hơi mỉm cười cáo lỗi:
- Ông ta là khách hàng thật, nhưng tôi khó lòng cung cấp được gì nhiều về ông ấy… Ông Brodski may ra có thể. Hai người thường cùng tới đây một lúc. Mà hình như ông ta hiện đang ở đây.
Vài phút sau, trung úy Boris gặp Brodski, chừng ba mươi tuổi, rất to con.
- Vâng, tôi vẫn còn nhớ. Cách nay ba tháng chúng tôi gặp nhau tại đây. Kết bạn với nhau cho tới bữa tôi nổi giận. Vừa tắm xong, Yakov nhìn tôi bằng cặp mắt rất kỳ, rồi bảo: “Hay thật kìa, thân hình hai chúng mình sao giống nhau như đúc thế này. Nếu chặt cụt đầu, chắc không thể phân biệt nổi”. – Brodski lúng túng nói tiếp – Tôi nghĩ,,, Yakov có những ý tưởng không lành mạnh, hơn nữa, có vẻ thuộc vào loại…Tôi bảo anh ta đừng bắt chuyện với tôi nữa, và sau đó hình như anh ta không quay lại đây nữa thì phải…
Giám đốc phòng tắm có vẻ choáng váng khi nghe về vụ đồi phong bại tục xảy ra ngay trong cơ sở của ông ta:
- Xin cam đoan với trung úy đây là lần đầu tiên tôi nghe có chuyện như vậy…
Boris bực mình dẹp ngay thói ba hoa của ông chủ. Một lần nữa, phải làm lại từ đâu. Như vậy Yakov không phải là nạn nhân một gã đâm thuê giết mướn do mẹ hắn trả công. Chính hắn đã xuống tay, chính hắn là tên sát nhân quái vật, nó đã rắp tâm bỏ ra nhiều tháng để kiếm ra người có thân hình giống hệt nó.
- Tuy vẫn có một chi tiết đáng ngờ: chiếc sẹo trên đùi trái. Khó có thể tin có sự trùng hợp kỳ lạ đó. Vậy xác chết không đầu trên đường Letchourov là ai? Là Yakov hay là nạn nhân của Yakov?
Trung úy Boris chưa tìm được lời giải thì vài ngày sau có một bà già tới xin gặp. Olga Larionova, trạc độ ngũ tuần, khá mau mồm miệng:
- Thưa trung úy, tôi rất lo. Về thằng cháu Ivan Laronov, mồ côi bố mẹ. Tôi là dì nó, góa chồng, là người thân độc nhất của nó. Tôi cư ngụ tại Matxcova. Ở Thủ đô đầy rẫy người ngoại quốc, mà thằng Ivan nhà tôi lại quá tin họ.
Trung úy cố gắng sắp xếp trật tự cho mớ ngôn từ đang cuồn cuộn tuôn ra:
- Khoan đã, cháu bà bao nhiêu tuổi?
- Hăm tám, thưa trung úy.
- Bà gặp lần mới nhất hồi nào?
- Cách đây ba tháng. Cháu tôi nói đi Saint Pétersbourg rồi bặt tin luôn… Tôi lo xa quá. Mà lại nhận được lá thư này nữa, càng lo dữ…
- Thư gì, thưa bà?
Bà khách rút trong xắc tay chiếc bì thư dán tem dày đặc:
- Thư tới đúng ngày tôi rời khỏi Matxcova. Gửi đi từ Paris. Viết về khoản tiền gì vậy?
Trung úy không đáp, mở ra đọc: “Thưa dì kính mến, Cháu tới Paris nhận món tài sản được thừa kế do bố cháu gửi ngân hàng, như dì đã biết. Để cháu được nhận quyền sở hữu hợp pháp, mong dì vui lòng cho cháu một bản trích lý lịch kèm một bản sao tờ di chúc của bố cháu. Cháu yêu của dì. Ivan” Trung úy Boris đăm chiêu suy nghĩ.
- Bà nhận đúng là chữ cháu bà chứ?
Olga vội đáp:
- Kể ra thì cũng giông giống. Nhưng nó không bao giờ nói với tôi “Cháu yêu của dì”… Mấy lại cần gì phải viết “Như dì đã biết”? Dĩ nhiên tôi phải biết rõ ông anh tôi qua đời ở Paris…
Trung úy thấy chỉ còn một câu hỏi:
- Bà có thấy cháu bà có vết sẹo trên đùi trái không?
Bà Olga Larionova không do dự:
- Có. Hồi bảy tuổi nó bị thủng đùi khi trèo cây. Trung úy Boris thở dài:
- Tôi rất buồn, thưa bà. E rằng cháu bà không còn sống trên đời này nữa…
Gương mặt bà Olga như chàm đổ. Giọng nghẹn ngào:
- Phải bắt tên giết người.
Boris rắn rỏi đáp:
- Vâng. Mong bà sẽ tiếp tay. Bà gửi ngay tới Paris những giấy tờ nó đòi. Mọi việc để tôi lo. Trung úy tức tốc đi gặp các sếp. Các quan chức Bộ Nội vụ thấy ngay tầm quan trọng của vụ án. Họ liên lạc ngay với các quan chức Pháp và nhận được lời cam kết cộng tác. Trung úy Boris Yarochenko được cử sang Paris theo dõi cuộc điều tra…
Olga gửi mọi giấy tờ sang Paris theo cách lưu ký, đúng như kế hoạch của trung úy. Vì vậy, Boris cùng các đồng nghiệp người Pháp bí mật phục trước phòng bưu điện trung tâm trên đường Louvre. Anh có trong tay tấm hình Vladimir Yakov…
Họ chờ ba ngày ròng rã…
Cuối cùng, gã bán xà bông thành Saint Pétersbourg xuất hiện. Nhắm loại trừ mọi vấn đề có thể còn tồn tại, trung úy Boris chờ tới lúc nó đến cửa ghise nhận lá thư vào tay mới tới tóm cổ. Nó phản đối quyết liệt:
- Tôi là Ivan Laronov. Ông muốn gì?
Lúc trông thấy tấm hình trên tay trung úy, nó biết mình thua rồi. Mấy phút sau Vladimir Yakov khai trong đồn cảnh sát trên đường Louvre:
- Tôi cần tiền. Nghĩ ra cách giết ai đó nhưng giả làm như người bị giết là tôi. Trước đó tôi đăng ký bảo hiểm để bà già lĩnh. Lần thứ nhất. định thử với thằng cha gặp tại phòng tắm hơi nhưng nó tỏ vẻ đề phòng. Sau đó tôi gặp Ivan Laronov trong quán café. Tôi thấy ngay nó rất ngây ngô, nhất là lại giống tôi y hệt về thân hình. Yakov ngưng một lát trước khi tả lại lúc nó xuống tay giết Ivan.
- Một buổi chiều, tôi đổ votka cho nó uống trong phòng tôi. Sau một giờ nó xỉn như chết, vì không biết uống rượu. Tôi cứa cổ, rồi…
Hung thủ ngưng bặt, rồi khai tiếp:
- Tôi mặc cho Ivan bộ đồ của tôi. Kiểm tra kỹ trên người nó có dấu vết gì đặc biệt không, và phát hiện vết sẹo trên đùi trái. Khi rời phòng, tôi tời gặp bà già nói rõ chi tiết đó, như vậy khỏi ai nghi ngờ khi nhận dạng xác chết.
Giờ đây nội vụ đã sáng tỏ. Mụ già Yakov đồng lõa với thằng con giết người. Vì thế nên Boris mới bắt gặp mụ mỉm cười, nụ cười từ 500.000 rúp do án mạng mang về cho chúng. Vladimir Yakov kết thúc lời khai:
- Ivan Laronov đã có lần kể với tôi về khoản thừa kế đang chờ nó ở Paris. Tôi muốn bắn một phát hạ hai con mồi. Sai lầm! Đáng lẽ chỉ nên bằng lòng với khoảng tiển bảo hiểm…
Trung úy Boris Yarochenko chia tay các đồng nghiệp Pháp, phần việc còn lại do người Pháp giải quyết tiếp. Anh chỉ còn một nhiệm vụ cuối cùng: trở về Saint Pétersbourg tóm gáy mẹ Yakov. Một tuần sau khi hoàn tất công vụ, trung úy Boris Yarochenko đã tưởng thế là xong, không ngờ lại có thêm việc mới: báo cho Valentina Yakov biết tin con trai mụ đã tự sát ngay đêm bị bắt, bằng cách nuốt chửng món hàng mẫu mới nhất của nó: một cục xà bông, bên trong gã giấu sẵn một ống cyanua.

Read Full Post »

- Bố ơi, có vị tu sĩ dòng Thánh Françoise!

Giorgio ngạc nhiên, đứng lên ra mở cửa. Người tu sĩ này muốn gì mà tới đây khi đêm đang xuống?

Người vừa hiện ra trên bục của choàng chiếc áo dài nâu sồng bằng vải len thô, chiếc mũ trùm nhọn đầu sụp tận mặt. Tuy thế, Giorgio vẫn nhận ra đây là cha Vicenzo, bề trên trong nhà thờ gần Marazini. Cha lật mũ, để lộ khuôn mặt nghiêm nghị dưới mái tóc trắng phau.

- Ông Giorgio này, tôi tới đây vì một công việc… tế nhị. Yêu cầu ông đưa tôi một số tiền… một số tiền lớn: 2 triệu lia.

Giorgio há hốc mồm kinh ngạc, lát sau mới cười ồ lên.

- Thì ra là cha… Cha quyên tiền kiểu gì lạ vậy? Nét mặt tu sĩ sa sầm:

- Đâu phải cho nhà thờ, mà cho… xã hội đáng kính. Họ tới kiếm Antonio Bronzini, anh làm vườn cho nhà thờ, bảo rằng các tu sĩ phải làm trung gian thu tiền của con chiên trong vùng, nếu không tu viện sẽ bị đốt cháy và tất cả các tu sĩ sẽ bị giết chết. Thoạt tiên cha đâu có tin, nhưng chỉ ba ngày sau đó, cha Beppino bị một phát đạn. Các cha chẳng còn cách nào khác, đành tuân theo họ. Họ bắt cha phải tới kiếm ông để lấy số tiền này.

Giorgio phản ứng quyết liệt:

- Chuyện này không liên quan gì tới con. Cha đi báo cảnh sát mới đúng. Vị tu sĩ buồn bã lắc đầu.

- Ông thừa biết thế là không thể được.

Đúng, Giorgio biết rõ như vậy. Ngay chuyện gọi đích danh chúng là mafia còn chẳng dám, cứ phải gọi trệch đi là “xã hội đáng kính”, huống hồ đi báo cảnh sát. Có mà chết đầu nước! Chủ trại quyết định chấm dứt câu chuyện.

- Con rất tiếc, thưa cha. Xưa nay con chưa bao giờ lùi bước trước những lời hù dạo. Vả lại, có lẽ không có gì nghiêm trọng đâu. Họ chỉ thử làm cha hoảng thôi. Cha hãy làm như con: không chịu và rồi đâu vào đấy.

Tu sĩ biết nói nữa cũng vô ích. Đành thở dài, trùm mũ lên rồi đi thẳng…

Cha Vicenzo đi giữa bóng đêm, lưng còng xuống như đeo một gánh nặng vô hình. Những điều cha vừa nói với người chủ trại giầu có là sự thực trăm phần trăm. Cách đây một tuần, Antonio Bronzini đã tới gặp cha. Anh ta ba mươi tuổi, rất tốt, hoàn toàn mù chữ. Bố mẹ chết hết trong chiến tranh, anh được tu viện mang về, trở thành người làm vườn cho tập thể. Tận tụy với công việc, sống độc thân trong căn nhà nhỏ gần tu viện. Cha Vicenzo rất thương, coi gần như con đẻ. Thành ra khi nghe Antonio báo tin, cha thực sự choáng váng.

- Thưa cha, bữa qua có hai ông tới kiếm con. Họ tự giới thiệu là người của xã hội đáng kính. Và bảo: “Này Antonio, mày tới bảo cha Vicenzo rằng từ nay các tu sĩ của viện Marazini phải quyên tiền cho bọn tao. Các tu sĩ đưa tiền cho mày, bọn tao sẽ tới nhận. Nếu các tu sĩ không chịu, tụi tao sẽ đốt cháy tu viện và giết mày”.

Antonio kể lại như vậy, mặt cắt không còn giọt máu. Cha Vicenzo thì bực, cho là có những kẻ đùa dai với anh chàng chất phác này. Cha cố trấn an Antonio, nhưng ba ngày sau xảy ra vụ cha Beppino bị bắn trúng lưng trên đường đi cầu nguyện. Viên đạn chỉ sượt qua da, tuy kẻ nổ súng ở vị trí rất thuận tiện có thể dễ dàng bắn hạ cha nếu nó muốn. Rõ ràng đây chỉ là đòn cảnh cáo. Chính Antonio Bronzini xác nhận ngay sáng bữa sau:

- Hai ông đó bữa qua vừa trở lại, bảo: “Tụi tao chỉ xin cha Beppino tí tiết thôi. Lần sau sẽ cho đi đứt luôn”. Họ cho biết tên người đứng đầu danh sách: Giorgio Canetto, số tiền: 2 triệu lia.

Đó là những sự kiện làm cuộc sống trong tu viện đảo lộn. Bọn Mafia liều lĩnh và trắng trọn tới mức dám biến cả một tập thể tu sĩ thành những kẻ tống tiền… Về tới tu viện, cha Vicenzo báo cho Antonio biết cha trở về tay không. Anh chàng khốn khổ hết sức lo sợ, khóc nức nở và lạy van:

- Cha ơi, chúng sẽ giết con mất thôi! Chúng có những con dao to đùng, cả súng nữa. Xin cha quay lại gặp ngài Canetto lần nữa. Nhân danh Đức Mẹ Nhân từ!

Giorgio Canetto không coi cuộc viếng thăm bữa đó của cha Vicenzo là chuyện nghiêm túc. Sáng sau, ông đi kể cho cả làng nghe. Và chế nhạo cái cách các tu sĩ dòng Thánh Françoise quyên góp… Nhưng dân làng không ai dám cười. Khi dính dáng tới Mafia thì đứng có đùa, rất có thể xảy ra những chuyện tày đình. Ngay tối đó cha Vicenzo trở lại gặp chủ trại Giorgio. Lần này, chủ trại chẳng thèm mở cửa, chỉ nói qua cửa sổ:

- Tôi đã nói không là không. Cha không hiểu à?

Tu sĩ cố nài:

- Chúng sẽ giết Antonio! Giết ông!

Chủ trại không phải loại người thích tranh cãi. Ông ta cố nghĩ một câu trả lời quyết định, hét thẳng vào mặt tu sĩ già:

- Đi với ma quỷ cho rồi!

Cha Vicenzo trùm mũ che mặt, nói bằng giọng khàn khàn:

- Chúa phù hộ cho con, Giorgio…

7 giờ tối hôm sau, những tá điền làm thuê ăn công thấy Giorgio nằm thõng thượt, mắt trợn ngược trên rìa con đường dẫn tới đồi trồng nho. Trên ngực có hai vết đạn… Sự kiện gây hoảng loạn khắp làng. Không ai còn nghi ngờ gì nữa, tất cả đều biết mình phải giữ mồm giữ miệng: Không thể tính chuyện đi báo cảnh sát. Coi như Giorgio bị tử thương trong “tai nạn săn bắn”. Khá đông dân làng đi trong đám tang chủ trại, nhưng không ai nói với ai một câu, thậm chí không dám nhìn mặt nhau. Tên sát nhân có thể trà trộn đâu đây… Làng Marazini chìm trong khiếp sợ, trong thời gian khá dài…

Bữa sau khi mai táng Giorgio, dân làng thấy tu sĩ già dòng Thánh Françoise đi về phía ngôi nhà Giorgio Canetto, mũ trùm kín mặt. Mọi người đoán biết cha mang tới đây thông điệp gì. Cái chết của người chồng không thay đổi tình thế: cha tới đòi góa phụ nộp tiền. Quả nhiên, cha Vicenzo rầu rĩ bảo Carmela Canetto:

- Bữa qua chúng lại tới gặp Antonio. Bảo nếu con không giao nộp 2 triệu lia, nạn nhân thứ hai phải trả giá sẽ là con trai của con…

Camela đã biết thế từ trước. Bà chuẩn bị đủ số tiền gói trong mảnh vải. Bà đưa cho tu sĩ… Người làng Marazini đã nộp khoản tiền chuộc mạng đầu tiên. Cỗ máy đã khởi động. Ngày 18 tháng Sáu năm 1960. Trời vừa chạng vạng tối, một bóng người choàng áo len vải thô đi qua làng, dừng lại trước ngôi nhà bề thế. Nhà của dược sĩ Bartolo Cordl, giầu thứ nhì trong vùng, chỉ thua nhà Giorgio. Cha Vicenzo gõ cửa, vào nhà… Dược sĩ sống một mình trong ngôi nhà mênh mông. Ông góa vợ từ nhiều năm nay. Tu sĩ đi ngay vào việc.

- Con chắc biết cha tới có chuyện gì chứ?

Bartolo biết. Và không coi đây là chuyện có thể coi thường. Mồ hôi chảy đầm đìa trên bộ mặt xám ngoét chứng tỏ như vậy. Khốn nỗi, bản tính con người này rất keo kiệt… Cha Vicenzo nói tiếp:

- Chúng ấn định số tiền là 2 triệu.

Con số làm dược sĩ nhăn mặt đau xót. Ông la lên:

- Không có đâu! Nếu có, con sẵng sàng nộp cho chúng, nhưng đào đâu ra bây giờ!

Tu sĩ cố thuyết phục:

- Cha biết con có đủ mà. Đủ 2 triệu lia. Đừng chống cự vô ích. Chúng dám làm mọi chuyện, không biết ghê tay là gì. Hãy nghĩ tới Giorgio.

- Không có! Nhờ cha nhắn lại cho chúng.

- Thôi được, cha sẽ nhắn. Cha cầu nguyện cho con.

Đêm hôm sau, cả làng Marazini choàng dậy: cửa hàng dược bốc cháy… Khi lính cứu hỏa tới thì đã muộn. Ngọn lửa hung hãn từ những can xăng phụt ra hết sức dữ dội, chẳng mấy chốc cơ ngơi nhà Bartolo biến thành tro. Ngay bữa đó, đêm vừa buông xuống, đúng giờ đã thành lệ, mọi người lại thấy bóng đen khoác áo chùng đội mũ trùm đầu tới gõ cửa nhà Bartolo. Như trường hợp đã xảy ra với Giorgio, đòn trừng phạt không thay thế khoản tiền phải cống nộp. Mafia vẫn đòi bằng đủ. Người mở cửa cho tu sĩ gần như kiệt sức.

- Con mất hết rồi cha ơi. Nhưng phải cố giữ mạng sống… Ông ta đưa một bọc tròn gói giấy.

- Con cất được ít vàng. Chỗ này vừa đủ 2 triệu lia. Đáng lẽ nghe cha từ bữa qua. Giờ đây chẳng còn hy vọng gì nữa.

Hỏa hoạn tại hiệu dược phẩm Bartolo như trái bom nổ giữa Marazini. Cả làng kinh khiếp tột độ, không nghĩ tới gì khác được nữa, chỉ nơm nớp chờ xem tu sĩ sẽ gõ cửa nhà ai. Lúc này, càng không một ai nghĩ tới việc báo cảnh sát. Các tu sĩ trở lại làng. Bây giờ không chỉ một mình Vicenzo như trước, nhiều tu sĩ khác cũng phải nhận làm trung gian cho bọn Mafia, mỗi tuần hai hoặc ba lần vào làng lúc trời tối. Dân làng Marazini vừa thấy mặt trời lặn là nín thở, chờ các tu sĩ tới “quyên góp” như Giorgio bất hạnh đã gọi hành động tống tiền như vậy.

Nhiều tuần lễ trôi qua, bóng đen choàng áo vải thô lần lượt gõ cửa các nhà, bất kể giàu nghèo. Không một ai được miễn, tất cả dân làng lần lượt bị tống tiền. Bọn Mafia tỏ ra nắm rất chắc khả năng từng nhà, chúng ấn định số tiền phải nộp theo tỷ lệ gia sản từng hộ. Những nhà nghèo nhất chỉ phải nộp khoảng vài ngàn lia. Càng ngày Marazini càng chìm sâu vào ác mộng. Cuộc sống hàng ngày bị lệ quyên góp chi phối hoàn toàn, mọi sinh hoạt đều xoay quanh cái trục quái ác đó. Đêm đêm, đàn ông cũng như đàn bà con trẻ đều mơ thấy toàn tu sĩ đen đúa trùm mũ kín mít. Những cha đạo hiền hậu, được cả vùng yêu mến đã bị Mafia biến thành tu sĩ ma quỷ.

Ngày 8 tháng Tám năm 1960. Một tu sĩ cầm trên tay vài tờ 10.000 lia ra khỏi nhà người vừa bị tống tiền bước ra. Căn nhà xoàng xĩnh của Bernardo Stoppia, nhân viên gác rừng. Anh đóng cửa đăm chiêu suy nghĩ. Và quyết định. Anh chán ngấy đến tận cổ tình hình này. Dân làng quá nhu nhược không dám đứng lên tự bảo vệ, anh sẽ bảo vệ họ. Anh còn trẻ, chưa vợ con, đây là việc củâ anh. Anh sẽ một mình cáng đáng hết. Biết là nguy hiểm lắm, nhưng chúng không dễ gì lột được da anh mà không trả giá đắt: anh là tay thiện xạ trong vùng. Bernardo tính toán suốt đem, đến sáng thì kế hoạch hành động đã hình thành. Cũng như mọi người trong làng, anh biết các tu sĩ không trực tiếp gặp Mafia. Bọn này chỉ tiếp xúc với Antonio, người làm vườn cho tu viện. Các tu sĩ giao tiền cho anh ta, Mafia sẽ tới nhà anh thu tiền. Vậy thì Bernardo sẽ theo dõi Antonio và từ đây lần ra đường dây Mafia.

Thời khóa biểu hàng ngày của Antonio rất dễ theo dõi: sáng nào cũng ra khỏi nhà lúc 6 giờ để tới tu viện, 7 giờ tối trở về nhà. Đường đi không xa quá 300 mét. Ngoài ra, anh làm vườn rất ít giao du, gần như chưa lần nào vào làng. Một anh chàng có vẻ chất phác, coi mảnh vườn rau là cả thế giới rồi… Tối 9 tháng Tám, Bernardo phục trước tu viện. 7 giờ, thấy rõ Antonio đi ra và về thẳng nhà. Ngay phía đối diện có căn nhà đổ, dùng làm đài quan sát rất tốt. Bernardo vào nấp sau khung cửa sổ, đặt súng trước mặt…

Đêm xuống. Anh hồi hộp chờ những bóng đen xuất hiện, nhưng không thấy gì. Trời gần sáng, anh gác rừng trở về nhà. Trong mười lăm ngày tiếp theo. Bernardo không rời mắt khỏi anh làm vườn nhưng không kết quả. Mafia đánh hơi thấy rồi chăng? Nhưng chúng vẫn quyên góp đều đều như trước. Gần như mỗi tối lại có một tu sĩ đến tống tiền ai đó trong làng. Tiền vẫn giao cho Antonio như thường lệ. Mafia đợi gì mà không tới lấy?

Ngày 24 tháng Tám năm 1960. Như mọi bữa, anh gác rừng bám sát Antonio. Đang đi trước Bernardo mấy mét, bất thình lình Antonio quay lại. Bernardo không kịp lẩn tránh.

- Tớ biết cậu bám đuôi từ mấy bữa nay – Anh làm vườn nói – Xéo ngay! Còn lảng vảng ở đây, chúng sẽ giết cả cậu và tớ luôn.

- Chúng là ai? Tớ chẳng thấy có người nào tới đây.

Antonio vung tay:

- Chúng ở khắp nơi, nhưng làm sao cậu thấy được. Đi ngay, đừng để bị biến thành thây ma.

Anh gác rừng không hỏi nữa, bỏ đi thẳng, biết mình sẽ phải làm gì… Mãi khi chỉ còn cách đồn cảnh sát Marazini chừng 500 mét anh mới nhận ra mình đã phạm sai lầm: Phải chạy thật lẹ lên, thay vì đi từ tốn như thế này. Anh cắm đầu lấy đà lao lên, và đúng lúc vửa tới cửa đồn thì một tiếng nổ chát chúa vang lên. Bernardo thấy lưng bị đập rất mạnh, anh ngã vật xuống… Khi tỉnh lại, Bernardo nhận ra mình đang nằm dưới nền đồn cảnh sát. Một bác sĩ đang khám vết thương, trung úy chỉ huy đồn cũng có mặt. Trung úy nói nhẹ nhàng:

- Vết thương không nặng, sẽ qua khỏi thôi. Đừng sợ, chúng tôi sẽ bảo vệ anh khỏi tay Mafia. Lâu nay chúng tôi chưa hành động vì không ai khiếu kiện gì, nhưng giờ đây đã khác rồi.

Anh gác rừng thấy mình đang kiệt sức. Phải nói ngay những gì mình biết, nếu không sẽ muộn mất. Cố thu hết nghị lực còn lại, anh thều thào:

- Không phải Mafia… thằng Antonio Bronzini là chủ mưu… Vừa nãy, nó biết tôi đã phát hiện ra nên bám đuôi tôi… Nó bắn tôi, trước đây nó đã bắn chết Giorgio và đốt nhà thuốc. Bắt lấy nó!

Nói vừa dứt, Bernardo xỉu luôn. Trên đường chạy tới nhà gã làm vườn của tu viện, cảnh sát hết sức ngạc nhiên. Antonio mù chữ, dáng vẻ thật thà, chăm chỉ, mà lại là tác giả của kế hoạc kỳ quái này sao? Một kế hoạch bịt mắt cả một tu viện, cả một làng trong nhiều tháng ròng! Một gã trông hiền lành thế, mà lại giết người không ghê tay. Khi tới nơi, cảnh sát thấy nhà Antonio trống trơn. Hắn đã bỏ trốn, mang theo vài thứ lặt vặt. Không làm được gì hơn, cảnh sát đành báo động cho tất cả các đồn trên toàn đảo Sicile, nói rõ hung thủ rất nguy hiểm. Một lần nữa, nhà chức trách lại đánh giá thấp Antonio Bronzini. Họ tưởng thằng cha đần độn chưa một lần thò mặt ra khỏi làng phen này chỉ lẩn quất đâu đó trên đảo. Thế nhưng cuối cùng người ta tóm được gáy hung thủ ở tận Bergame, miền cực bắc nước Ý. Nó định tậu một căn nhà để ẩn náu tới ngày xuống lỗ. Công chứng viên thấy gã nông dân mù chữ mà lại có trong tay những 15 triệu lia tiền mặt bèn mật báo cảnh sát… Khi tra tay vào còng số 8, Antonio gật đầu thú tội. Và nói:

- Ngày mai, tôi sẽ khai hết.

Sáng hôm sau, cảnh sát thấy nó đã treo cổ lên cửa sổ xà lim tạm giam. Thành thử không ai biết tại sao và bằng cách nào nó nẩy ra ý thực hiện một vụ được coi là kỳ lạ nhất trong lịch sử hình sự của đảo Sicile. Được xếp hạng số một ở nơi xảy ra không ít vụ án li kỳ, kế hoạch tống tiền của Antonio Bronzini quả là vô tiền khoáng hậu!

Read Full Post »

Góc khuất của… nghề?

Trong những năm đầu thập niên 60 thế kỷ trước, Trường đại học Sư phạm Hà Nội đóng tại Cầu Giấy, lớp học đơn sơ là những ngôi nhà tranh vách đất. Giảng dạy tại Hà Nội ít lâu, khi đế quốc Mỹ chính thức tiến hành chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, từ tháng 2/1965, lớp học của cô Sính cũng phải sơ tán ra huyện Ứng Hòa – Hà Tây, nơi có dòng sông Đáy uốn khúc quanh co.

Read Full Post »

Nhiệm vụ chính của các “thám tử” này là đọc trộm và kiểm soát email của một số người trong công ty, ngầm theo dõi các đồng nghiệp, ghi dấu hành động của họ trên web… để lật mặt những kẻ có âm mưu phản bội, đánh cắp bí mật của công ty để bán cho các đối thủ cạnh tranh.

Những nghề “độc” trong thế giới IT (1)

Bởi là một thám tử nội bộ nên yêu cầu đầu tiên của những người làm nghề này là phải biết giấu mình thật kín, biết “giữ mồm, giữ miệng” vì họ là những người gần như duy nhất biết tất cả những bí mật của các nhân viên trong công ty.

Theo Roger A. Grimes, một chuyên gia tư vấn bảo mật của tạp chí InfoWorld, đa số những thám tử IT nội bộ đều xuất thân từ một nhân viên IT bình thường. Sau một thời gian làm việc “đủ lâu”, một ngày kia họ nhận được lệnh của lãnh đạo công ty phải theo dõi “anh bạn” ngồi cạnh bởi có những dấu hiệu cho thấy đồng nghiệp này đang thực hiện những âm mưu có hại cho công ty. Và thế là những nhân viên IT này rẽ ngang vào nghề thám tử nội bộ một cách bất đắc dĩ với những công việc đầu tiên là đọc email, kiểm tra toàn bộ lịch sử duyệt web hay thậm chí là lục tung cả ổ cứng trên máy tính của đồng nghiệp kia.

“Tôi cam đoan rằng những thám tử nội bộ này có ở 100% số doanh nghiệp lớn và vừa”, Grimmes nói và thật đáng buồn là có đến quá nửa số nhân viên bị điều tra nội bộ, sau đó bị sa thải và chỉ có khoảng 1/4 được minh oan.

Cũng theo Grimes, người đã từng có thời gian khá dài làm nghề này, tuy khởi đầu là những nhiệm vụ liên quan đến công việc kinh doanh hay “gián điệp công nghệ” nhưng trong thế giới hiện đại, số vụ điều tra liên quan đến các mối quan hệ bất chính của các nhân viên lại chiếm đa số. “ít nhất 50 đến 75% yêu cầu điều tra mà chúng tôi nhận được ngày nay là các vụ lật tẩy kẻ ngoại tình” Grimmes nói. “Đứng thứ 2 trong danh sách mới là những vụ liên quan đến bảo mật thông tin kinh doanh hay bảo vệ bí quyết công nghệ”.

Những chuyện bi hài

Với những thám tử IT này, có những sự thật mà chỉ có họ mới biết và không ít những chuyện bi hài đã xảy ra.

Ở một công ty nọ, chỉ sau một ngày điều tra Grimes đã phát hiện ra rằng có đến quá nửa số băng thông truy cập Internet của công ty được điều hướng đến các trang web khiêu dâm. Điều này chứng tỏ có một “phong trào” xem web sex đang nở rộ nhưng khi Grimes thông báo với ông tổng giám đốc, ông này đã phẩy tay rất thản nhiên và nói: “Chúng tôi không cần đến những cảnh sát Internet”.

Ngay sau đó, Grimes đã thử “mò” vào ổ cứng trong máy tính của ông tổng giám đốc kia và thật bất ngờ, cả núi tranh ảnh khiêu dâm của những kẻ đồng tính đã phơi bày cùng với đó là cả kế hoạch đi “công tác Miami” cùng với một gã đồng tính làm tiền. Hai tuần sau, “ông tổng” đến gặp Grimes và phịa ra cả một câu chuyện mà chẳng ai thèm tin rằng có mấy gã choai choai đã đột nhập vào phòng làm việc của ông ta rồi dùng máy tính để lướt qua những trang web khiêu dâm dành cho những kẻ đồng tính. “Yêu cầu của ông ta là tôi phải xóa sạch dấu vết trong chiếc máy đó”, Grimes kể.

“Tôi có thể chứng minh được rằng phần lớn những vị đang ngồi trên những chiếc ghế lãnh đạo cao nhất của các doanh nghiệp lại là những kẻ lười biếng nhất “, Grimes nói. “Có không ít những gã giám đốc vẫn nhận lương hàng trăm ngàn USD mỗi năm nhưng họ lại dành phần lớn thời gian làm việc trong ngày để lướt web sex”.

Nhưng làm thám tử IT không phải lúc nào cũng được “hài” như thế. Có những khi, điều mà họ đau khổ nhất là không muốn nhưng vẫn phải nhìn thấy những mặt trái của mọi người xung quanh. “Tôi đã phải cố thật nhiều để không hình dung ra những kẻ ngồi trước chiếc máy tính này là ai nhưng thật đau lòng khi đó có thể là anh bạn thân của tôi. Đó là thứ cảm xúc không thể phân biệt nổi.

Có một lần, tôi được lệnh phải dọn dẹp chiếc máy tính của bà giám đốc đang chuẩn bị về hưu. Mặc dù bà ấy đã ngoài 60 tuổi và một vị giám đốc khá tài năng nhưng khi tôi tìm đến chiếc ổ cứng trên máy tính của bà ấy, đập vào mắt tôi là những bức ảnh chụp bà giám đốc trong tình trạng “không một mảnh vải” cùng với một vị lãnh đạo khác trong công ty. Tất nhiên, tôi đã xóa hết những bức ảnh ấy nhưng cũng kể từ đó, tôi không thể nào có được một ý nghĩ tốt bào về bà ấy” Grimes tâm sự.

Read Full Post »

Tại Việt Nam hoạt động thám tử cũng đã sơ khai phát triển, nếu như không muốn nói là đã có ngay từ những buổi đầu tiên giặc Pháp nổ súng xâm lược nước ta từ thế kỷ 19. Hình thức chủ yếu là các hoạt động do thám và dò xét của chính phủ lâm thời

Read Full Post »

Các Kỹ Năng Cơ bản

CÁC KỸ NĂNG CƠ BẢN TRONG QUÁ TRÌNH TÁC NGHIỆP
1. Kỹ năng lập kịch bản với 36 kế của Tôn Tử
2. Kỹ năng nhập vai
3. Kỹ năng phản ứng biến cố
4. Kỹ năng xử lý tình huống pháp lý

Read Full Post »

Ông Tổ Nghề Thám tử

Chân dung ông Lê Văn Lương

(Theo TRÂM ANH – Báo Tuổi trẻ)
Theo tài liệu báo chí cũ, một trong những người làm nghề thám tử tư đầu tiên ở VN là ông Lê Văn Lương với văn phòng thám tử tư đặt tại 109A Pasteur, Sài Gòn cũ mang tên “Lelion Lefort Agency” mà ông [...]

Read Full Post »